Tổ chức chụp ảnh áo dài, áo yếm ở làng cổ Phước Lộc Thọ ngày 08/06/2014

Hình ảnh chuyến đi chụp ảnh dã ngoại Đà Lạt tháng 12/2013

Hướng dẫn upload và chèn nhiều ảnh & text vào diễn đàn một cách nhanh chóng

Trang 3 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 31

Chủ đề: Lịch sử nhiếp ảnh

  1. #21
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Sự phát triển của chất liệu in và ảnh chân dung (P.2)


    Cuối cùng cò có một phương pháp thứ ba tiến bộ hơn, hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Đó là phương pháp ảnh danh thiếp mà Andre Adolph-Eugene Disdéri đã đăng ký bản quyền ở Pháp. Tên của phương pháp nói lên rằng các ảnh chụp có kích cỡ giống nhau như danh thiếp, cỡ giấy ảnh 6x9cm.


    Phương pháp ảnh danh thiếp của Disdéri, mỗi ảnh có kích thước trung bình 6x9cm
    Để chụp được các loại ảnh chân dung như vậy Disdéri chế tạo một âm bản, nhà nhiếp ảnh phải dùng một loại máy ảnh chuyên dùng đặc biệt có 4 ống kính, trong máy đặt một hộp phim có thể dịch chuyển qua lại trong máy. Trên mỗi nửa tấm phim chia làm 4 miếng. Mỗi một miếng là một lần lộ sáng.

    Như vậy, cả miếng phim sẽ có 8 lần lộ sáng và ta có 8 ảnh. Và mỗi lần bấm máy ta sẽ có 8 bức chân dung. Đa số ảnh chân dung theo cỡ danh thiếp nói chung giá trị thẩm mỹ không cao. Người ta không cốt diễn đạt tính cách đặc trưng của đối tượng thông qua nghệ thuật chiếu sáng khác nhau phù hợp với nội tâm nhân vật hoặc thông qua việc chọn tư thế nhất định của người mẫu hay nét mặt đầy gợi cảm…
    Lúc này, album gia đình trở thành một bộ phận không thể thiếu của gia đình theo trào lưu Victoria (loại ảnh này phát triển mạnh sau cái chết của chồng Nữ hoàng). Do đó nhiều ảnh danh thiếp còn lưu giữ lại đến ngày nay, là tư liệu của quá khứ rất quý.
    Các nhà nhiếp ảnh chân chính, không làm ảnh danh thiếp. Ảnh chân dung của họ mang tính chất nghệ thuật khá nhất của thời gian giữa thế kỷ XIX. Cũng trong khoảng thời gian nàyở Pháp xuất hiện một trường phái nhiếp ảnh mang phong cách táo bạo, mạnh mẻ của những nhà nhiếp ảnh nổi tiếng đầy cá tính, làm cho Paris trở thành một trung tâm văn học nghệ thuật của thế giới. Có thể nói đây là thời kỳ của các nhà chụp ảnh chân dung, nổi bật nhất trong số đó là Nadar. Tên thật của ông là Gaspard Félix Tournachon, là tác giả những bức chân dung của các nhân vật có tên tuổi trong giới chính trị, văn học nghệ thuật.

    Ảnh chân dung được Nadar chụp bằng ánh sáng điện
    Nadar là người làm việc không biết mệt mỏi. Ông là một trong những người đầu tiên chụp ảnh chân dung bằng ánh sáng đèn điện. Với cách này ông đã chụp được một bộ tư liệu dưới lòng đất của Paris. Đó là nơi để các thi hài của người chết và hệ thống thoát nước của thành phố. Ông cũng là người đầu tiên chụp ảnh trên không từ một khinh khí cầu vào năm 1858.
    Nadar mở nhiều hiệu ảnh ở các thành phố khác nhau của nước Pháp và tất cả đều nổi tiếng. Dù nhu cầu chụp ảnh chân dung rất lớn và sự cạnh tranh mạnh mẽ của thương trường, nhưng những hiệu ảnh của Nadar vẫn giữ được tính nghệ thuật cao. Để làm nên một bức ảnh chân dung nghệ thuật đòi hỏi có sự hiểu biết sâu sắc về bộ môn nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc, đồ họa nghệ thuật…Thành công của một tác phẩm ảnh là công lao to lớn của cả một tập thể những người lao đồng kỹ thuật, nghệ thuật, thậm chí của cả những người lao động chân tay. Nhưng khi đánh giá một tác phẩm người ta thường quy cho nhà nhiếp ảnh, vốn đã nổi tiếng càng nổi tiếng hơn.
    Con đường nghệ thuật của Nadar và con đường của đồng nghiệp cùng thời với với ông là Etienne Carjat, người đã sáng tác nhiều bức chân dung nổi trội thời đó có những sự giống nhau đến kỳ lạ. Giống như Nadar, Carjat là một họa sỹ vẽ biếm họa, cũng xuất bản một tờ tạp chí. Cũng như Nadar, ông kết bạn với nhiều văn nghệ sỹ có tiếng tăm, mà hiệu ảnh của ông khai trương vào năm 1860, đã trở thành nơi gặp gỡ của họ. Tuy vậy, Carjat tỏ ra ít hào quang hơn vào trong tác phẩm, ít định hướng tư tưởng, nặng về phô trương hình thức hơn Nadar. Tuy vậy, Etienne Carjat vẫn là nhà nhiếp ảnh có tài được nhiều người tìm đến.
    SONY A77 , NEX6

  2. The Following User Says Thank You to onelight For This Useful Post:

    Thuyền Quyên (23-11-2012)

  3. #22
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts

    Bức ảnh được Franz Hanfstaengl chấm sửa phim âm bản trước khi in
    Việc chấm sửa ảnh chân dung cũng được đưa ra bàn thảo từ khiFranz Hanfstaengl, nhà nhiếp ảnh chân dung hàng đầu của Đức đã trưng bày tại cuộc triển lãm ảnh quốc tế ở Paris năm 1855, một bức ảnh làm ra từ một phim âm bản đã được tu sửa và một ảnh làm từ miếng phim âm bản đó nhưng không được tu sửa. Từ đó mở ra một thời đại mới trong nhiếp ảnh: phim âm bản phải được tu sửa rồi mới đem phóng ảnh. Việc tu sửa phim trở thành công việc thường nhật của một hiệu ảnh.
    Ở Hoa Kỳ ảnh chân dung khá nhất xuất hiện từ các hiệu ảnh làm theo phương pháp Daguèrre trước đây. Nhà nhiếp ảnh Brady tiếp tục sáng tác để làm giàu thêm bộ sưu tập chân dung các nhân vật đương đại nổi tiếng của mình. Trong đó nổi tiếng nhất là bức chụp chân dung Abraham Lincoln, người mà người ta đồn thổi rằng nhờ bài diễn văn của ông đọc tại Trường Cooper Union-College tại New York và nhờ bức chân dung do Brady chụp đã đưa ông vào Nhà Trắng.
    Ngày 9-2-1864, Licoln ngồi để chụp bức chân dung mà người ta in tờ giấy bạc 5 đô la. Những bức ảnh này là những ảnh chụp theo yêu cầu của họa sỹ Francis B. Carpenter, người đã ghi vào nhật ký của mình rằng: người chụp bức chân dung Lincoln là một người thợ chụp hình của Brady là Anthony Berger.

    Bức ảnh được dàn dựng tại sân khẩu của Napoléon Sarony
    Vào khoảng năm 1860, các nhà nhiếp ảnh chân dung bắt đầu đổi phông đơn giản bằng một bức phông vẽ cầu kỳ. Các đạo cụ dùng làm bối cảnh mỗi khi chụp, đều làm bằng giấy bìa cứng như: các cột xẻ rãnh dọc, các hàng rào kiểu nông thôn, những hòn đá nằm rải rác và các gốc cây nằm giữa đám cỏ nhân tạo… Chiếc ghế dùng cho người mẫu ngồi được thiết kế khá cầu kỳ. Phía sau thường có tấm dựa đầu.
    Bấy giờ cần có nhiều chân dung diễn viên để quảng cáo, vì vậy một số nhà nhiếp ảnh chuyên đi sâu chụp nhà hát, sân khấu. Tại các hiệu ảnh, ảnh sân khấu được dựng lại và diễn viên diễn lại các động tác của mình trước ống kính máy ảnh và người thợ có nhiệm vụ bấm máy đúng kỹ thuật. Cho nên thành công của bức ảnh trước hết phụ thuộc vào khả năng diễn xuất của diễn viên. Một trong những nhà nhiếp ảnh sân khấu kỳ cựu nhất phải kể đến Napoléon Sarony, ông sinh tại Canada năm 1821, năm mà người trùng tên với ông - Napoléon Bonaparte qua đời.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  4. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    Canar7 (23-11-2012),Thuyền Quyên (23-11-2012)

  5. #23
    Junior Member
    Ngày tham gia
    Oct 2012
    Bài viết
    4
    Thanks
    15
    Thanked 3 Times in 1 Post
    Bài viết rất hay ...thanks !

  6. #24
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Nhiếp ảnh động ra đời (Phần 1)

    Việc hoàn thiện chất nhũ tương trong công nghệ sản xuất phim không chỉ dẫn đến việc làm chủ, phân tích và tổng hợp các chuyển động của các vật thể, nó còn kéo theo cả việc tiêu chuẩn hóa các vật liệu ảnh.


    Lúc mới ra đời, nhiếp ảnh không ghi được các chuyển động, do độ nhạy của phim quá thấp, thời gian lộ sáng rất lâu, hình ảnh bị mờ, nhòe. Do đó, phát minh của Daguèrre vẫn có những tiếng chê bai, trách cứ rằng phương pháp Daguèrre chỉ chụp được tĩnh vật, công trình kiến trúc, còn các vật động không chụp được. Nên sau khi phương pháp Daguèrre ra đời (1839), một nhà phê bình nghệ thuật đã khẳng định rằng nhiếp ảnh sẽ không bao giờ thể hiện được vật thể chuyển động mà “không nhờ tới trí nhớ”. Nhà phê bình này khẳng định như đinh đóng cột rằng nhiếp ảnh không bao giờ ghi được các vật thể chuyển động. Muốn thể hiện được sự chuyển động của vật thể phải cần tới trí nhớ của con người, nghĩa là muốn thể hiện được chuyển động của các vật thể chỉ có thể vẽ hay viết.

    Một trong những bức ảnh chuyển động của George Washington Wilson
    Nhận định của nhà phê bình này chẳng bao lâu sau đã trở nên lỗi thời. Năm 1859, George Washington Wilson đã chụp được đoàn người đi qua phố Hoàng Tử (Princess Street) ở Edinburgh và cũng năm đó Edward Anthony chụp một loạt ảnh với không gian 3 chiều (lập thể) về giao thông ở thành phố New York, trong đó có cả những bức ảnh chụp lúc trời mưa.

    Các bức ảnh chụp quang cảnh không gian 3 chiều của Claude-Marie Ferrier, A. Ferrier Charles Soulier chụp vào năm 1860 tại Paris. Những bức ảnh này được đem trưng bày triển lãm ở Paris, được mọi người và công luận khen ngợi. Đối với Oliver Wendell Holmes, người chuyên nghiên cứu các dạng đi của con người một cách khoa học, thì cho rằng các bức ảnh đó có một giá trị cực kỳ lớn. Holmes nhận thấy các tư thế được nhận ra trên các bức ảnh này khác xa một cách bất ngờ so với quy ước thể hiện thông thường từ nhiều thế kỷ trước. Ông lưu ý đến độ dài của bước chân và tư thế gần như thẳng đứng của bàn chân của một trong số các hình người. Sự khiếm khuyết đó là do con mắt người không thể nhận ra các pha chuyển động diễn ra rất nhanh trong vài giây.

    Bức ảnh luyện ngựa, ghi lại với tốc độ màn trập cao
    Nhưng khuyết điểm khả năng nhìn của con mắt người đã được Edward James Muybridge chứng minh một cách có sức thuyết phục hơn, bằng cách trình bày các bức ảnh do mình chụp thể hiện rõ khi con ngựa phi như thế nào? E. Muybridge thu gom tất cả các tấm vải trải giường trong vùng chung quanh các trang trại nuôi ngựa để tạo nên một tấm phông nền trắng dọc theo một đoạn đường, để cho đối tượng chụp nổi rõ. Rồi ông huấn luyện con ngựa occident một thời gian cho tới khi con ngựa không còn ngần ngại chạy qua đoạn đường có căng phông trắng.
    Một vấn đề đặt ra lúc này là làm sao ghi lại được hình ảnh một con vật đang phi nước đại, với tốc độ 11m/giây. Các thử nghiệm ban đầu với việc mở và đóng máy ảnh (hộp tối) quá chậm, không đem lại kết quả. Sau hai lần thử nghiệm thất bại, sang ngày thứ ba, E. Muybridge suy ngẫm kỹ và nghĩ ra một nút bấm máy để sao cho khi bấm nút, chiếc lò xo được thả lỏng hai tấm màn lần lượt trượt song song qua hai ống kính máy ảnh đặt ngang và khi đó hai tấm màn để lộ ra một khe hở rộng 3mm trong một phần trăm giây. Khi con ngựa chạy qua, ông tức thời bấm nút, nhờ đó ông đã ghi được hình con ngựa occident lên âm bản ở trạng thái đang phi nhanh. Ông đã chụp được bức ảnh chú ngựa occident đang phi nước đại rất hoàn hảo và được mọi người ca ngợi.
    SONY A77 , NEX6

  7. #25
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Năm 1877, E. Muybridge lại bắt tay làm tiếp thử nghiệm của mình chụp chú ngựa occident phi nước đại với tốc độ 2.06 mét/giây và thời gian lộ sáng (thời gian chụp) nhỏ hơn 1/1000giây. Do việc chấm sửa không cẩn thận, bức ảnh bị hỏng, E. Muybridge phải làm lại từ đầu, nhưng lần này ông không sử dụng một máy ảnh như trước mà dùng một loạt máy.

    Chuyên động liên tiếp của chú ngựa trong 12 hình được E. Muybridge chụp
    E. Muybridge đặt cạnh đường đua ngựa 12 máy ảnh, mỗi máy đều có một nút bấm với tốc độ chụp nhỏ hơn 1/500giây. Các nút bấm máy được nối với các tiếp điểm và chặn qua đường đua, trong khi chạy con ngựa sẽ vấp phải các sợi dây và dật đứt sợi dây này đến sợi dây khác, thông qua một hệ thống công tắc điện sẽ tác động lần lượt vào các nút bấm của máy ảnh. Các máy ảnh lần lượt được chụp và cho ta 12 âm bản ở những thời điểm khác nhau, trong quá trình con ngựa phi nước đại.Trên các bức ảnh chụp, tuy chỉ nhận ra đường viền quanh của con ngựa, nhưng đủ cho ta thấy rõ ràng trong một pha cả 4 chân ngựa đều ở trong không trung - điều này làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên- xảy ra khi cả 4 chân chụm lại dưới bụng nó, chứ không phải hai chân trước vươn về phía trước, hai chân sau duỗi về phía sau như các họa sỹ thường vẽ về các con ngựa phi.
    Rogers, rất cảm kích trước các ảnh chụp ngựa của E. Muybridge, nên đã mời ông trình bày một số báo cáo ở Philadelphia. Các bản trình bày này được đón nhận một cách nhiệt thành của thính giả tới mức ông Hiệu trưởng Trường Đại học Pennsylvania ngõ ý muốn trả trước cho E. Muybridge 5.000 đô la cho một hợp đồng để tiếp tục các công trình của ông tại Philadelphia dưới sự bảo trợ của trường. E. Muybridge đồng ý ký hợp đồng. Một Hội đồng nghiệm thu được thành lập và Eakins được cử phụ trách dự án. Được E. Muybridge hỗ trợ, Eakins thiết kế một máy ảnh có một ống kính và một băng phim di động. Bằng cách đó, ông đã ghi được các chuỗi hình ảnh về các nhà điền kinh đang thi đấu.

    Chuyên động của vận động viên thể thao do E. Muybridge chụp
    Từ mùa xuân 1884 đến 1885 Muybridge chụp khoảng 30.000 bức ảnh với các máy ảnh cải tiến. Các nút bấm máy ảnh lúc bấy giờ đã có đồng hồ kiểm tra, nên người ta có thể cho lộ sáng tùy theo ý muốn. Người ta dùng 3 máy, mỗi máy có 13 ống kính ( một ống kính dùng để dò tìm, còn 12 ống kính chụp ), để chụp phía trước, phía sau và bên cạnh. Đặc biệt lúc bấy giờ đã có phim khô gelatin. Với loại phim này người ta có thể chụp được các bức ảnh có chất lượng cao, thời gian lộ sáng rất ngắn.
    Các bức ảnh chụp vật thể chuyển động cũng được Ottomar Aschuetz sáng tác cùng thời gian đó ở Lissa (nay là Leszno- Ba Lan). Các bức ảnh ông chụp trước đó là ảnh chụp các cuộc tập trận và về các động vật được ông thể hiện với chiếc máy ảnh do ông thiết kế chế tạo, có một nút bấm, cho phép thời gian lộ sáng cực ngắn. Năm 1884, ông đã làm một chuyện động trời, khiến cho giới nhiếp ảnh sửng sốt, bởi các bức ảnh của ông chụp một đàn sếu đang bay. Để chụp được các chuyển động này, ông đã chế tạo một loại máy ảnh có thể chụp lần lượt một dãy các bức ảnh để tạo ra hàng loạt ảnh về người và vật.

    Bức ảnh đôi Sếu của Ottomar Aschuetz
    Qua các bức ảnh chụp ngựa phi nước đại của Muybridge và của những người khác, làm cho một số người nghi ngờ, không tin tưởng. Họa sỹ August Rodin (1840-1917) công nhận rằng họa sỹ người Pháp Theodore Géricault (1791-1824) thể hiện không đúng những con ngựa đang phi nước đại. Nhiếp ảnh chụp tức thời đã phủ nhận Géricault. Tuy vậy, Géricault đúng, còn nhiếp ảnh sai. Vì hình tượng do họa sỹ xây dựng nên sinh động hơn. Do đó bất luận thời đại nào, hầu hết các họa sỹ khi vẽ ngựa đang phi nước đại bao giờ cũng ưa thể hiện hai chân trước vươn về phía trước lơ lững trên không. Hai chân sau duỗi về phía sau, dính mặt đất.
    Việc hoàn thiện chất nhũ tương trong công nghệ sản xuất phim không chỉ dẫn đến việc làm chủ, phân tích và tổng hợp các chuyển động của các vật thể, nó còn kéo theo cả việc tiêu chuẩn hóa các vật liệu ảnh. Đồng thời tiếp tục nghiên cứu một cách khoa học quá trình chụp ảnh và việc mở rộng tính nhạy sáng đối với vùng mầu xanh, lục, vàng, da cam và đỏ của dải quang phổ.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  8. #26
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Nhiếp ảnh động ra đời (Phần 2)

    Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nhiếp ảnh không chỉ có phim âm bản toàn sắc mà còn nhận được những phương tiện phụ trợ mới mang tính sáng tạo nghệ thuật, như kính lọc mầu (filter), lắp vào trước ống kính máy ảnh.


    Năm 1873, Hermann Wilhelm Vogel, giáo sư môn hóa nhiếp ảnh Trường Đại học Berlin, Đức phát hiện ra rằng người ta có thể chế tạo một chất nhũ tương nhạy với các mầu, bằng cách trộn thêm các chất mầu nhất định hấp thụ các mầu mà loại nhũ tương cũ không có khả năng nhạy sáng được. Các phim có trộn chất mầu lam (B), trở nên nhạy với vàng (Y), các phim có trộn mầu lục (G) sẽ nhạy với ánh sáng đỏ cánh sen (M) và các tấm có trộn chất mầu đỏ (R) sẽ nhạy với lam (B).

    Hermann Wilhelm Vogel
    Vogel mô tả phát minh của mình mang tính thời đại là “làm nhạy quang học”. Đầu tiên người ta chỉ mở rộng phạm vi nhạy sáng của các tấm phim đến các phần quang phổ da cam, người ta gọi các tấm phim này là “phim chính sắc” (Orthochromatic - nhạy sáng với tất cả các phần quang phổ trừ mầu đỏ). Về sau người ta chế tạo được loại lphim nhạy với cả mầu đỏ, gọi là “phim toàn sắc” (Panchromatic - nhạy với tất cả các mầu kể cả mầu đỏ).
    Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà nhiếp ảnh không chỉ có phim âm bản toàn sắc mà còn nhận được những phương tiện phụ trợ mới mang tính sáng tạo nghệ thuật, như kính lọc mầu (filter), lắp vào trước ống kính máy ảnh. Với từng loại kính lọc mầu này, người ta có thể nhấn mạnh một số mầu nhất định và đẩy lùi hoặc làm mờ nhạt các mầu khác. Cùng với việc sản xuất phim âm bản khô gelatin toàn sắc và kính lọc mầu, người ta đã sản xuất hàng loạt hai loại giấy ảnh mới:
    - Giấy sao chụp, giống giấy albumin, để in vật trực tiếp lên giấy, rồi chiếu ánh sáng trời qua, hình ảnh sẽ hiện lê, sau đó cho vào hãm hình.
    - Loại giấy ảnh có độ nhạy cao, có thể dùng ánh sáng nhân tạo, như qua máy phóng ảnh.

    Ống kính Rapid Rectilinear
    Đồng thời với việc tiếp nhận các vật tư ảnh mới này, các ống kính máy ảnh và máy ảnh được liên tục cải tiến. Các loại ống kính “Rapid Rectilinear” hay “Aplanate” (ống kính tương phản) đã được sử dụng rộng rãi từ 1866 đã mang lại kết quả tốt, nhưng góc mở của các loại ống kính này còn hẹp. Nhưng khi thiết kế cho độ mở ống kính lớn thì gây ra tình trạng ảnh thiếu sắc nét.
    Các nhà thiết kế chưa có cách nào khắc phục các lỗi quang học như không sắc nét, chứng loạn tị (astigmatism) với loại thủy tinh hiện có. Nhưng rồi người ta cũng giải quyết được vấn đề này khi hãng Schott ở Jena, Đức, một hãng chuyên sản xuất thủy tinh quang học, năm 1886, đã sản xuất được loại thủy tinh Bariumcrown, có chỉ số khúc xạ lớn hơn bất cứ loại thủy tinh nào được sản xuất ra cho đến lúc đó. Với loại thủy tinh này người ta có thể giảm được nhiều lỗi quang học làm cho ảnh không nét, đặc biệt giảm được độ loạn thị.

    Thành công nhất trong số các loại ống kính là loại ống kính chỉnh thị (annastigmatic), đó là loại ống kính có thấu kính đôi, được gọi là ống kính “Dagor” của C.P.Goerz, sản xuất năm 1893, có góc mở 700, với độ mở tối đa f/7,7 và ống kinh “Tessar” của hãng Carl Zeiss, Jena và đưa ra thị trường năm 1902, có độ mở ống kính tối đa là f/4.5 và góc mở là 500.

    Ống kính Tessar của Carl Zeiss
    Trong những năm tháng mà các phương pháp làm ảnh theo Daguèrre, phương pháp calo và phương pháp colodion, các nhà nhiếp ảnh thường cho lộ sáng một cách đơn giản là mở nắp ống kính máy ảnh, rồi sau vài giây hay vài phút đậy lại. Giờ đây độ nhạy sáng của âm bản đã được nâng cao, đòi hỏi phải chia thời gian chụp thành các phần của giây được quy định sẵn rất chính xác.
    Để làm được điều này, đòi hỏi các nhà sản xuất máy ảnh phải chế tạo được loại ống kính có các loại cửa trập (obturateur) khác nhau. Thông thường là loại “cửa trập ở giữa”. Cửa trập ở giữa được đặt giữa các thấu kính của ống kính máy ảnh và người ta gọi là cửa trập trung tâm. Cửa trập này gồm một giây cót và một hệ thống lò xo điều khiển các lá thép xoay đi xoay lại. Loại cửa trập ở giữa đơn giản gồm 3 hoặc 4 lá thép mỏng, khi ta bấm máy nó sẽ đóng vào hoặc xòe ra để lộ một lõ nhỏ ở giữa ống kính.
    SONY A77 , NEX6

  9. #27
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Ngoài ra còn có cửa trập gồm hai tấm rèm bằng vải đen (nay bằng các thanh thép đen và mỏng được nối với nhau, kín sáng) được đặt ngay trong thân máy ảnh, sát với mặt phẳng phim, tại tiêu điểm của ống kính, nên gọi là cửa trập tiêu diện (Focan Plan Shutter). Với cửa trập này, khi ta bấm máy, hai tấm rèm chạy song song để lộ ra một khe hở rộng hẹp khác nhau tùy theo nút điều chỉnh tốc độ chụp. Khe hở này sẽ quét lên toàn bộ bề mặt của miếng phim. Nhờ vậy miếng phim được lộ sáng. Gần đến cuối thế kỷ XIX, người ta đã định được chính xác thời gian lộ sáng đạt tới 1/5.000 giây.


    George Eastman sử dụng chiếc máy ảnh Kodak do ông sáng chế
    Cũng trong thời gian này các loại máy ảnh cầm tay (máy ảnh cỡ nhỏ) xuất hiên, tạo điều kiện cho các nhà nhiếp ảnh có thể chụp liên tiếp một lúc hàng chục tấm phim. Công việc chụp ảnh trở nên nhanh chóng. Hơn nữa với loại máy ảnh nhỏ này người ta có thể chụp ảnh mà đối tượng không hay biết, làm cho bức ảnh sinh động hơn. Vì vậy thời bấy giờ có người gọi nó là “máy ảnh thám tử” hay “máy ảnh bí mật”. Nhiều hãng sản xuất máy ảnh đã đặt cho chúng những cái tên đầy sáng tạo như: Hàn lâm (Academie), Con át rô (As de Carreau), máy ảnh nhỏ (Brownie), Comfort, Compact, Kodak…
    Trong đó, nổi trội hơn cả là máy ảnh Kodak, do George Eastman (1854-1932) phát minh và chế tạo, ông còn là nhà chế tạo phim khô. Các tấm phim khô rất tiện dụng, dùng được ngay, với độ nhạy cao chưa từng có thời bấy giờ. Điều kiện tráng phim, làm ảnh cũng cực kỳ thuận lợi. Tất cả các tiến bộ kỹ thuật đó đã tạo thuận lợi cho các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp và nghiệp dư phát triển ngày một nhiều.

    Họ không chỉ chụp chân dung cá nhân mà còn chụp chân dung tập thể, chụp các cuộc du ngoạn, chụp thể thao, động vật… Cách thể hiện của họ là chụp bất ngờ, không bố trí dàn dựng. Người ta gọi những bức ảnh này là “cú bấm bất chợt” (snapshot) - xuất xứ của từ này là cách nói của những người thợ săn dùng để chỉ phát súng đang ở tư thế bên hông - không ngắm.

    Ảnh chụp không ngắm máy những năm 1890
    Đối với các loại máy ảnh cầm tay, việc chỉnh nét bằng cách ước lượng khoảng cách giữa ống kính và vật chụp, nên ảnh không được nét sắc. Mặt khác trước khi bấm máy các nhà nhiếp ảnh muốn nhìn thấy hình ảnh trên kính mờ như ở loại máy lớn, khi chụp phải đặt trên chân máy. Để đáp ứng các yêu cầu đó, trong những năm 90 thế kỷ XIX, các hãng chế tạo máy ảnh đã đưa ra thị trường một loại máy ảnh với bộ phận ngắm kiểu mới. Đó là loại máy ảnh hai ống kính (có tiêu cự bằng nhau): một ống dùng để ngắm, vật chụp hiện lên trên tấm kính mờ, có độ lớn bằng âm bản, còn ống kia để lộ sáng (chụp hình). Loại mảy ảnh này có tên là Cosmolite do E. Francais chế tạo ở Paris năm 1889.
    Một cải tiến có ý nghĩa nhất trong kỹ thuật đồ họa ra đời vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX là việc hoàn thiện phương pháp tự động (Autotype), tạo điều kiện để có thể in hình ảnh và chữ lên các trang báo và tạp chí. Từ đó nghề phóng viên nhà báo nhiếp ảnh xuất hiện, tác động mạnh đến các nhà nhiếp ảnh.

    Năm 1890, khi cuốn sách ảnh nổi tiếng của Jacob Riis - “Một nửa kia sống ra sao” (How the Other Half Lives) xuất hiện gồm 17 minh họa theo phương pháp tự động (Autotype), nhưng chất lượng chưa cao. Do đó, công trình của J.Riis không được nhiều người chú ý trong một thời gian dài cho đến khi Alexander Alland vào năm 1949, ông cho phóng to một số ảnh khá đẹp từ các âm bản kính chính gốc của Riis đem triển lãm, sau đó đưa vào in trong tập “Máy ảnh Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ” (U.S. Camera, 1948 ).

    Một trong những bức ảnh trong bộ ảnh “Một nửa kia sống ra sao” của Jacob Riis
    Qua triển lãm và cuốn sách cho thấy J. Riis là một nhà nhiếp ảnh tài năng. Ông và những người bạn đồng nghiệp thuộc vào số những người đầu tiên dùng đèn chớp Magné ở Mỹ. Loại đền này do Adolf Miethe và Johannes Gaedicke người Đức phát minh năm 1887. Để đở nguy hiểm cho người chụp, Diffard đã cho chất Nitrocellulose vào một lượng gấp đôi bột Magnésium và đốt hỗn hợp này trong một chiếc bát kim loại.
    Nhiếp ảnh ngày càng phát triển, nhiều người đam mê như nhà văn Emil Zola (1840-1902), đến với nhiếp ảnh vào năm 1887. Ông đã chụp những bức chân dung đầy sáng tạo, gây được những ấn tượng mạnh mẽ. Đó là các bức ảnh chụp quang cảnh thành phố Paris. Là một nhà văn nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết của ông hoàn toàn dựa vào khả năng quan sát chính xác mà ông truyền sang từ lĩnh vực nhiếp ảnh. Cùng say mê nhiếp ảnh còn có nhà văn Giovani Verga (1840-1928) đại diện cho chủ nghĩa sát thực của Italia. Ông thường chụp về thành phố và con người trên đảo Sicin cũng thể hiện thái độ và sự đồng cảm giống như thái độ và sự đồng cảm đặc trưng trong tiểu thuyết của ông.
    Họa sỹ Edgar Degas cũng rất quan tâm đến nhiếp ảnh. Năm 1895, ông đã chụp hàng chục tấm phim và tự in tráng phim ảnh. Về bố cục, đường nét những bức ảnh của Degas gợi nhớ tới các tranh vẽ của ông. Ngoài ra còn có nhiều nhà nhiếp ảnh khác mà mối quan tâm của họ đối với lĩnh vực này vượt ra ngoài khuôn khổ ghi chép, lập tư liệu thuần túy, mà họ say sưa với quan điểm cho rằng nhiếp ảnh là một trong những bộ môn nghệ thuật, có một vị trí xứng đáng trong đại gia đình của nghệ thuật tạo hình. Với sự nhiệt tình và dâng hiến, họ đã khám phá ra những tiềm năng của nghệ thuật nhiếp ảnh.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  10. #28
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Chụp ảnh trong khoảnh khắc


    Cùng với sự ra đời máy ảnh cỡ nhỏ cầm tay và các tấm phim khô xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đồng thời với sự hoàn thiện máy phóng ảnh và các loại giấy ảnh nhạy sáng cực nhanh đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các nhà nhiếp ảnh đi sáng tác dễ dàng và tăng số lượng chụp phim và làm ra ảnh có bố cục chặt, làm tăng khả năng mở rộng đề tài, đối tượng mô tả mà trước đó coi như là không thể tiếp cận được.


    Nhiều người đề xuất nên dùng loại máy ảnh cỡ nhỏ để làm các bức ảnh lớn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của các nhà nhiếp ảnh, đặc biệt trong trường hợp đi chụp dã ngoại.
    Năm 1858, Thomas Skaife đã thiết kế một chiếc máy ảnh cỡ nhỏ, với ống kính có độ mở chế quang f/2.2 chụp với miếng phim có chiều dài cạnh là 2.5mm. Năm 1859, nhà thiên văn cung đình Scotland là Charles Piazzi Smyth trong một chuyến đi sang Nga ông đã dùng máy ảnh cỡ nhỏ chụp một số phim âm bản với chiều dài cạnh là 2.5cm. Đó là cảnh đường phố Nowgorod, đã gây ngạc nhiên cho công chúng xem ảnh bởi tính chân thật và chất lượng ảnh tốt. Sáu năm sau, Piazzi Smyth, tiến hành một chuyến đi thám hiiểm Ai Cập để tìm hiểu Kim Tự Tháp Cheop và sự định hướng thiên văn của nó. Trong chuyến đi này ông cũng mang một máy ảnh cỡ nhỏ, dùng phim âm bản colodion ướt, có chiều dài cạnh 2.5cm.

    Chiếc máy ảnh cỡ nhỏ của Thomas Skaife, với ống kính đọ mở f/2.2
    Năm 1869, tại Hội Nhiếp ảnh thành phố Edinburgh (Photographic Society of Edunburgh), ông trình bày một số ảnh phóng to từ các âm bản nhỏ chụp được trong chuyến đi thám hiểm Ai Cập và trình bày một bản báo cáo về kỹ thuật nhiếp ảnh mà mình đã thực hiện. Trong bản báo cáo này ông so sánh ảnh chụp những người nghèo của mình với các ảnh từ một chuyến đi chính thức cũng đến nơi này với sự tài trợ “London giàu có”, cách đấy 4 năm. Trong số ảnh đó, ông lưu ý khán giả về một bức chân dung mà ông chụp người hướng dẫn khách du lịch tên là Ali Dobri đang đứng trước một trong những ngôi mộ nằm phía Đông đồi Kim Tự Tháp lớn rất có hồn. Ông kết luận, "chụp máy ảnh cỡ nhỏ vừa thuận lợi, nhanh hơn, tạo điều kiện bấm máy đúng thời cơ và khi phóng ảnh ta có điều kiện cắt cúp như mình muốn".
    Cùng với sự ra đời máy ảnh cỡ nhỏ cầm tay và các tấm phim khô xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đồng thời với sự hoàn thiện máy phóng ảnh và các loại giấy ảnh nhạy sáng cực nhanh đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các nhà nhiếp ảnh đi sáng tác dễ dàng và tăng số lượng chụp phim và làm ra ảnh có bố cục chặt, làm nổi bật chủ đề của bức ảnh, vì trong khi phóng, nhà nhiếp ảnh có thể cắt cúp lại theo yêu cầu. Máy ảnh cỡ nhỏ ra đời làm tăng khả năng mở rộng đề tài, đối tượng mô tả mà trước đó coi như là không thể tiếp cận được.

    Một bức ảnh Kim Tự Tháp - Ai Cập của Charles Piazzi Smyth
    Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phạm vi hoạt động của chiếc máy ảnh cầm tay còn được mở rộng hơn nữa, nhờ một loạt đổi mới kỹ thuật và công nghệ in tráng phim ảnh. Hơn nữa người ta đã chế tạo được những ống kính chụp cho ta hình ảnh sáng rõ rất nhiều so với các ống kính trước kia và có độ mở chế quang lớn hơn.
    Nhà kỹ thuật Jules Carpentier (nhà sáng chế ra chiếc máy quay phim cho anh em nhà Lumière gọi là Cinematograph năm 1892), đã thiết kế một chiếc máy chụp chính xác mà ông gọi “Photo-Jumelle” (máy ảnh ống nhòm), vì trông nó giống như ống nhòm. Máy ảnh này có hai ống kính giống hệt nhau. Một ống kính tạo hình ảnh trên tấm phim cỡ 4.5x6cm, còn ống kia cũng tạo hình ảnh giống như hình trên miếng phim, lên một tấm kính mờ mà nhà nhiếp ảnh có thể nhìn thấy qua kính lọc mầu đỏ khi nhìn sát mắt vào máy ảnh để chọn bố cục. Máy ảnh Photo-Jumelle được chế tạo theo những tiêu chuẩn cực kỳ chính xác, chỉ cho phép sai số không quá 1/100 mm, đó là độ chính xác quá mức trong công nghệ chế tạo máy ảnh thời bấy giờ, khi mà ngành cơ quang chính xác chưa trở thành một ngành công nghiệp phát triển. Chiếc máy ảnh này cùng một lúc lắp được 12 tấm phim âm, mỗi lần chụp xong một tấm, chúng được thay đổi tấm khác bằng cách kéo một thanh gạt bằng đồng ra để đưa tấm phim đã chụp sang hộp bên, đồng thời đẩy tấm phim mới chưa chụp tiếp theo vào.

    Máy ảnh Photo-Jumelle
    Qua một nút bấm tốc độ chụp , nối với lò xo cho phép thời gian lộ sáng 1/60 giây. Ống kính của máy ảnh này có tiêu cự cố định (fixfocus), vì Carpentier nhận định rằng các nhà nhiếp ảnh rất khó có khả năng chỉnh độ nét chính xác. Nghĩa là với loại ống kính tiêu cự cố định, khi chụp không cần phải lấy nét. Kèm theo máy ảnh Photo-Jumelle, còn có một máy phóng ảnh cũng có ống kính tiêu cự cố định. Carpentier giải thích rằng: với máy này, người ta có thể dễ dàng phóng to lên 16.5x12.5 cm từ các âm bản nhỏ. Và sau một thời gian ngắn người ta đã trang bị cho chiếc máy Photo-Jumelle một loại ống kính có độ sáng mạnh hơn, nên độ mở có thể khép f/11, đồng thời máy ngày càng được cải tiến nhỏ, gọn nhẹ hơn.
    Trong lúc đó hai nhà chế tạo là L. Gaumont và Cie cho ra thị trường một loại máy ảnh gấp lại được có tên “Block-Notes”, có thể bỏ túi áo. Khi gập đôi lại chiếc máy ảnh có kích thước: 3x6x9 cm, nhưng vẫn chụp với phim 4.5x6 cm. Nhờ có chiếc máy ảnh Block-Notes mà cậu bé Jacquee Henri Lartigue, mới 6 tuổi, đã chụp được cảnh thả diều, đua xe ô tô… Đặc biệt năm 1908, bỗng nhiên xuất hiện các máy bay với cấu trúc khác nhau, có cái bay được, cái không, cậu bé thường xuyên có mặt ở sân bay Issy-les-Molineaux nên đã chụp được khá nhiều phim. Lúc 12 tuổi Lartigue mới cho công bố những bức ảnh cậu chụp máy bay. Đây là những tư liệu sống động nhất và chính xác nhất mà nhân loại có về việc ra đời của máy bay. Mặc dầu Lartigue vẫn cho rằng ông chụp ảnh là để giải trí.
    SONY A77 , NEX6

  11. #29
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts

    Máy ảnh Block-Notes có thể thu lại nhỏ gọn để trong túi áo
    Tuy năm 1902, đã có nhũ tương nhạy sáng, người ta đã có thể chụp nhanh dưới ánh đèn sân khấu, hoặc ánh sáng ban ngày. Nhưng mãi tới năm 1924, các nhà nhiếp ảnh mới dễ dàng chụp ảnh với áng sáng thường, khi ở Đức xuất hiện trên thị trường hai loại máy ảnh: Ernox (về sau đổi thành Ermanox) của hãng Ernemann-Werke A.G và chiếc máy ảnh Lunar của Hugo Mayer. Cả hai loại máy này đều dùng phim miếng cỡ 4.5x6 cm để trong hộp kim loại. Các loại máy này có tốc độ chụp ( tốc độ cửa chập) là 1/1000 giây. Ống kính có độ sáng cực mạnh, độ mở lớn hơn f/1.5. Nhờ những ưu điểm đó mà nhiếp ảnh có khả năng tiếp cận với các lĩnh vực mà trước đây chưa thực hiện được như chụp ảnh gần, chụp trong nhà với ánh sáng nhân tạo, chụp sân khấu, diễn viên đang biểu diễn, chụp trẻ em vui chơi, các loại ảnh khoa học, ảnh vĩ mô, vi mô…
    Năm 1928, do biết được tính năng kỳ diệu của hai loại máy ảnh này, nhà nhiếp ảnh Berlin, Đức là Erich Salomon, đã dùng nó chụp chân dung một số nhân vật có tên tuổi cho các báo ảnh. Ông xin phép được chụp họ trong các dịp lễ trang trọng ở các phòng kín. Lúc đầu người ta từ chối, vì họ nghĩ, một khi ánh chớp sáng lóe và sau đó để lại đám khói mù mịt (dùng đèn chớp Magne) sẽ làm dán đoạn buổi lễ. Salomon đã thuyết phục họ bằng cách kín đáo chụp lén một số ảnh mà họ không hay biết. Khi làm xong ảnh cho họ xem và họ rất thích thú. Từ đó ông nhanh chóng chiếm được cảm tình của các chính khách và ông còn được chụp ảnh trong các cuộc gặp gỡ, của các nhà ngoại giao đang nói chuyện say sưa, thân mật có lúc đến tận 11 giờ đêm, thậm chí có lần đến 1 giờ sáng, mệt mỏi, rũ rượi, họ ngả lưng vào chiếc ghế bành.

    Chiếc máy ảnh nhỏ gọn Ernox với ống kính độ mở lớn f/1.5
    Một người bạn đồng nghiệp cùng thời với Solomon là Felix H. Man, người có phóng sự ảnh đăng trên các báo ảnh hàng đầu của Đức, Anh và Mỹ, từ năm 1929, chọn cách đi của mình cũng giống như Solomon. Ông đã thành công trong việc ghi lại bộ điệu của các diễn giả khi đạt đến đỉnh cao của bài thuyết trình, hay chụp nhà chỉ huy dàn nhạc (nhạc trưởng) với chiếc gậy bắt nhịp ở những khoảnh khắc có tính quyết định của bản hợp xướng. Đó là giây phút đạt đến đỉnh điểm của sức cuốn hút của bản nhạc. Cũng như Salomon, thoạt tiên Man dùng chiếc máy ảnh Ermanox với phim kính độ nhạy thấp, nên máy ảnh bao giờ cũng đặt trên chân máy và tốc độ chụp để ở vị trí “B” ( thời gian tùy chọn). Và Man bấm máy khi ông cảm thấy bàn tay diễn giả làm điệu bộ hoặc chiếc gậy bắt nhịp đã vung lên ở cao điểm chuyển động.
    Nhưng chẳng bao lâu sau đó, ông dùng máy ảnh nhỏ cầm tay gọn nhẹ và phim 35mm, Man có thể chụp một lúc 36 kiểu phim, mới thay cuộn phim khác. Chiếc máy ảnh đầu tiên Man dùng là máy Leica, do kỹ sư Oskar Barnack làm việc tại bộ phận nghiên cứu máy quang học của hãng E. Leitz ở Wetzlar, Đức thiết kế chế tạo và nó được đưa ra thị trường vào năm 1924. Máy Leica lắp ống kính có tiêu cự trung bình 50mm, độ mở ống kính f/3.5. Cải tiến đầu tiên đối với máy ảnh này là ống kính tháo lắp được. Đồng thời hãng tiếp tục sản xuất các loại ống kính có tiêu cự và độ mở ống kính khác nhau nằm phục vụ các yêu cầu nghệ thuật của các nhà nhiếp ảnh.
    Năm 1932, hãng Zeiss Ikon đưa ra thị trường một loạt máy ảnh tương tự như Leica, nhưng được cải tiến hơn, lắp thêm một bộ phận đo khoảng cách được kết nối với một cơ cấu chỉnh sắc nét. Tiếp đó, hãng Zeiss Ikon sản xuất máy thêm ống kính có độ mở f/1.5, độ sáng cực mạnh, đồng thời cho ra loại máy mang nhản hiệu Contax chụp phim 35 mm.

    Chiếc máy ảnh Leica do Oskar Barnack chế tạo
    Sau chiến tranh thế giới thư hai, hãng Zeiss Ikon Dresden sản xuất máy ảnh Contax S có ống ngắm phản chiếu có thể nhìn thấy hình ảnh trên kính mờ nhờ một lăng kính.
    Trong lúc máy ảnh cầm tay chụp phim 35 mm trở nên phổ cập, thì một số nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp vẫn ưu tiên dùng máy ảnh cỡ lớn như máy ảnh Rolleiflex do hãng Franke & Heidecke đưa ra thị trường năm 1929. Máy Rolleiflex hai ống kính chụp phim cuộn 12 kiểu cỡ 6x6 cm. Máy Rolleiflex về sau được cải tiến nhiều: cơ cấu lên phim vừa làm nhiệm vụ đặt tốc độ chụp. Hiện Rolleiflex chỉ một ống kính có tên là Rollei SL66. Năm 1948, hãng sản xuất máy ảnh Thụy Điển bán loại máy chụp phim cỡ lớn, một ống kính có gương phản chiếu, nhãn hiệu Hasselblad.
    Năm 1933, Juline Levy Gllery ở New York, lần đầu tiên cho trưng bày các ảnh của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Henri Cartier-Bresson, Pháp để cho công chúng làm quen với loại máy ảnh nhỏ cầm tay. Cartier- Bresson đã thành công trong việc ghi được cái khoảnh khắc một phần mấy của giây, khi mà đối tượng biểu lộ khía cạnh có ý nghĩa nhất, về hình thức có giá trị nghệ thuật cao. Đối với Bresson, máy ảnh cỡ nhỏ, chụp phim 35 mm là một công cụ làm việc lý tưởng và hữu hiệu nhất. Vì bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào Bresson đều có thể lập tức đưa máy ảnh vào hoạt động kịp thời, để bắt giữ được giây phút biểu hiện cao nhất của dòng thác sự kiện. Trước khi bấm máy, ông bao giờ cũng nghĩ đến bố cục của bức ảnh. Ông nói : ông không bao giờ chụp theo kiểu “có sao chụp vậy”. Cartier- Bresson có khả năng đặc biệt nắm bắt được khoảnh khắc cao điểm trong mọi hòan cảnh của sự vật. Trong khoảnh khắc, hình ảnh sự vật liên tục vận động và được thu vào ống kính với một sự hài hòa về hình thức biểu hiện cũng như nội dùng một cách thành công.

    Bộ đèn chớp Magne và máy ảnh Leica
    Để tạo điều kiện cho việc chụp ảnh khoảnh khắc trong trường hợp ánh sáng yếu, người ta dùng đèn chớp Magne. Loại ánh sáng này không ảnh hưởng bởi những nguồn sáng khác, nhưng có độ sáng gần bằng độ sáng của ánh sáng trời. Nhược điểm của loại đèn này là tạo ra khói mù, ảnh hưởng đến đối tượng chụp. Với trang bị bị đèn chớp, người ta có thể chụp mọi nơi, mọi lúc trong mọi hoàn cảnh. Nhưng kết quả cho ta một bức ảnh không như ý muốn, nếu không muốn nói là bức ảnh không nghệ thuật, vì trên bức ảnh chỗ nào có ánh chốp thì trắng bạch, chỗ nào ánh chớp không tới được thì đen ngòm.
    Hơn nữa nó tạo nên bóng râm, trông rất khó chịu. Bóng đèn chớp Magne chỉ dùng một lần rồi vứt đi và thay bằng một bóng khác. Ngày nay được thay bằng bóng đèn phóng điện trong khí xenon. Đó là đèn chớp điện tử phép chụp ảnh với thời gian lộ sáng tối đa nhanh một phần triệu giấy. Loại đèn này ra đời từ năm 1938, do Harold E. Edgerton ở Viện nghiên cứu kỹ thuật Massachusett (Massachusett Institute of Technology) phát minh.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  12. #30
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Nhiếp ảnh màu ra đời


    Không lâu sau khi các nhà nhiếp ảnh tiên phong làm kinh ngạc cả thế giới bằng việc lưu lại hình ảnh đen trắng của thế giới xung quanh trên tấm kim loại hoặc trên giấy, thì một số người bắt đầu nghiên cứu làm ảnh màu, mà bước thô sơ nhất là người ta tô mầu lên ảnh đen trắng gần giống với tự nhiên.

    Để đi sâu vào nghiên cứu ảnh màu thì ngay từ thời Niepce đã có dấu hiệu chứng tỏ ông ta đang tìm hiểu về ảnh màu. Trong bức thư gửi cho em ruột của mình là Claude. Ông đã kể về các nghiên cứu cách cố định màu sắc của ông trên lĩnh vực ảnh màu, ông viết: “…anh còn phải tìm cách cố định màu sắc”. Và khi ông đến thăm Daguèrre năm 1827, ông đặc biệt quan tâm đến các khảo cứu của Daguèrre trên lĩnh vực ảnh màu.

    Trong bức thư gửi cho con trai là Isidor Niepce, ông hào hứng viết: “Ông Daguèrre đã đạt đến việc có thể vẽ nên một số màu trong quang phổ áng sáng bằng chất hóa học của ông ta. Ông đã tổng hợp lại được bốn màu trong đó và giờ đây ông đang tìm cách phối trộn ba màu còn lại, để có được bảy màu của dãy quang phổ. Nhưng ông Daguèrre đang gặp nhiều khó khăn ngày một tăng lên trong việc biến đổi mà hợp chất này phải trải qua, để ghi lại được một số màu”.

    Thực ra, các ảnh đơn sắc làm theo phương pháp Daguèrre không thể tái hiện được các màu sắc của vật. Nhưng mãi về sau người ta mới nhận ra khiếm khuyết ấy và các nhà nhiếp ảnh chụp theo phương pháp Daguèrre bắt đầu tô màu lên ảnh.

    Bức ảnh chụp bằng phương pháp Daguerre được tô màu
    Các thử nghiệm đầu tiên để tạo ra màu sắc của ảnh không phải do tô màu, mà do kỹ thuật nhiếp ảnh. Bởi nhu cầu đòi hỏi ảnh màu rất lớn, mà việc tô màu không những không mỹ thuật mà màu sắc không thực. Bức ảnh màu ra đời đầu tiên vào năm 1830, nhưng đó là bức ảnh một màu, đơn điệu và màu mau phai.
    Năm 1850, Levi L. Hill, một mục sư theo phái rửa tội và là nhà nhiếp ảnh ở New York đã trình cho các nhà nhiếp ảnh hàng đầu ở Mỹ xem các mẫu thử ảnh màu do ông làm. Giới chuyên môn muốn biết cụ thể về kỹ thuật của Hill và người ta sẵn sàng trả cho ông một khoản tiền lớn để mua phát minh của ông. Nhưng Hill chống chế: “Trả đến 100.000 đô la thì cũng không mua được phát minh của tôi”. Ông nói tiếp: “Tôi có thể công bố phát minh của mình khi nào tôi thấy thích hợp”. Rồi thời gian trôi qua chẳng thấy Hill nói gì. Cuối cùng vào năm 1852, trong một bài viết gửi tới các nhà nhiếp ảnh Hoa Kỳ và công chúng chơi ảnh, Hill tuyên bố: Ông chỉ khẳng định đã làm được phát minh, nhưng khi hoàn thiện thì các quỷ sứ vô hình của một quá trình nhiếp ảnh đã gây khó khăn cho ông và ông không tài nào khắc phục được. Công luận gọi ông là tên lừa đảo.
    Trong quá trình sáng tác, các nhà nhiếp ảnh chụp theo phương pháp Daguèrre, nhiều lần tình cờ thấy màu sắc hiện lên trên tấm phim của họ. Niepce de Saint-Victor, con trai của Niepce Isidor, năm 1851, đã làm được ảnh màu theo phương pháp Daguèrre bằng cách làm cho các tấm bạc nhạy sáng bằng chất clorua. Phát hiện này được nhiều đồng nghiệp hoan nghênh, nhưng không giữ màu được lâu.

    Bức ảnh màu gần như hoàn hảo của Gabriel Lippmann năm 1891
    Năm 1891, Gabriel Lippmann, giáo sư vật lý Trường Đại học Sorbonne, Pháp đã hoàn thiện một phương pháp giao thoa bắt nguồn từ hiện tương của một lớp cực mỏng, chẳng hạn như lớp màng dầu trên mặt nước, hoặc một lớp dầu nhớt trên mặt đường, khi được mặt trời chiếu sáng sẽ tạo ra tất cả các mầu sắc cầu vòng. Từ hiện tượng này, Lippmann đã tiến hành thử nghiệm: Dùng một bản kẽm mỏng bóng nhẵn, phủ một lớp nhũ tương bắt sáng, liên kết với một lớp thủy ngân lỏng. Khi ánh sáng chiếu vào, hợp chất bắt sáng nhiều lớp tạo thành hình ảnh. Qua quá trình xử lý, bản kẽm mầu hiện ra chính xác. Lippmann đã thành công trong việc tạo màu trung thực, nhưng đòi hỏi phải lộ sáng rất lâu và nhiều kỹ thuật phức tạp, nhất là khâu in tráng ảnh. Do đó, phương pháp của Lippmann rất khó áp dụng vào thực tiễn.
    Từ năm 1802, nhà vật lý Thomas Young (1773-1825) sau khi làm thí nghiệm đã thông báo rằng thị giác con người có thể lưu lại 3 màu, trong đó phản ứng mạnh nhất với mầu đỏ, xanh và lục. Ông gợi ý rằng sự phản ứng đó của thị giác là nhờ sự kết hợp 3 mầu theo tỷ lệ khác nhau, tạo ra cảm giác nhìn thấy màu. Chính ý tưởng đó của Young đã hình thành nền tảng cho công trình nghiên cứu khoa học của nhà vật lý người Anh, James Clerk Maxwell (1831-187 sau này.
    Năm 1861, Maxwell đã thực hiện một thí nghiệm gây xôn xao trong Viện Khoa học Hoàng gia London. Ông nói rằng người ta có thể tạo ra một màu sắc bất kỳ khi pha trộn các tỷ lệ nhất định của các ánh sáng đỏ (R), lục (G), và lam (B). Để chứng minh điều đó, ông đã chiếu lên màn hình ba hình ảnh trong suốt của một băng vải Tartan, dệt các mầu theo trang phục của người Scotland. Trước mỗi đèn chiếu ông đặt máng bằng kính trong suốt, một máng đựng dung dịch màu đỏ (R), một máng đựng dung dịch màu lam (B), và máng thứ ba đựng dung dịch màu lục (G).

    Ông lần lượt chụp qua máng: đỏ, lục và lam. Chụp lần thứ nhất lọc áng sáng màu đỏ, lấn thứ hai lọc áng sáng màu lam, và cuối cùng chụp lọc ánh sáng màu lục. Từ mỗi âm bản, in thành một dương bản đen trắng trong suốt. Từ mỗi bản dương đen trắng đó đem chiếu với áng sáng màu thích hợp (áng sáng đỏ, lục và lam), trùng khít lên nhau trên màn hình ta sẽ có hình ảnh với mầu sắc như vật chụp. Kết quả cho ta một bức ảnh màu, tuy chưa thật hoàn hảo.
    SONY A77 , NEX6

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •