Tổ chức chụp ảnh áo dài, áo yếm ở làng cổ Phước Lộc Thọ ngày 08/06/2014

Hình ảnh chuyến đi chụp ảnh dã ngoại Đà Lạt tháng 12/2013

Hướng dẫn upload và chèn nhiều ảnh & text vào diễn đàn một cách nhanh chóng

Trang 1 của 4 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 31

Chủ đề: Lịch sử nhiếp ảnh

  1. #1
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts

    Lịch sử nhiếp ảnh

    Lịch sử nhiếp ảnh: “Sự tích” chiếc hộp tối (P.1)


    “Hộp tối” (Camera Obscura) đầu tiên, tiền thân của chiếc máy ảnh ngày nay, thực sự là một chiếc buồng rộng đủ để cho nhà họa sỹ bước vào được bên trong để xử lý kỹ thuật trước khi cho ra đời những hình ảnh trên giấy.
    Từ xa xưa nhân loại đã từng mơ ước một ngày nào đó sẽ ghi lại được hình ảnh thiên nhiên, con người, cuộc sống... ở những giây phút đẹp nhất, có sức biểu hiện cao nhất để lưu lại cho hậu thế.
    Đáp lại nguyện vọng khao khát đó, ngay từ thời Phục hưng con người bước đầu đã tạo ra được hình ảnh của sự vật trong chiếc “hộp tối”. Thời bấy giờ người ta biết khá rõ về nguyên tắc của chiếc “hộp tối”. Ánh sáng khi đi qua một lỗ cực nhỏ trên vách của một buồng tối, sẽ tạo ra trên vách đối diện với lỗ nhỏ một hình ảnh ngược chiều của vật thể bên ngoài buồng tối chiếu vào.

    Buồng tối buổi sơ khai
    Các nhà sử học chép rằng, cách nay 2000 năm từ thời Chiến quốc (nhà Thương: 475-221 Tr.Cn), sách Mạc Kinh của Mặc Định đã nói nhiều về hộp tối trong bài “lỗ nhỏ thành hình ảnh”. Đến thời Phục hưng, được nhà danh họa Leonardo da Vinci (1452-1514) nghiên cứu kỹ càng hơn. Chuyện kể rằng vào một buổi trưa hè oi ả, nhà họa sỹ bậc thầy Da Vinci đang nằm ngủ trong phòng đóng kín cửa. Khi thức giấc, ông nhìn thấy trên bức tường đối diện với một khe hở rất nhỏ một cảnh tượng ngoài đường phố rất ngoạn mục đang diễn ra: Đó là cảnh nhà cửa, phố xá, người ngựa, xe cộ qua lại như mắc cửi. Nhưng có điều khác với cảnh thực là hình ảnh trên tường lộn ngược và không thật rõ nét. Từ hiện tượng này ông nghĩ ra chiếc buồng tối có một lỗ cực nhỏ để cho ánh sáng chiếu qua. Sau lỗ nhỏ ông đặt tấm phông trắng đối diện. Hình ảnh bên ngoài đi qua lỗ nhỏ chiếu ngược lên phông trắng. Nhờ đó Leonardo da Vinci vẽ phối cảnh chính xác và nhanh chóng các vật thể và phong cảnh (thời bấy giờ người ta chưa biết đến luật phối cảnh). Cho nên có thể nói rằng Leonardo da Vinci là người sáng tạo ra chiếc hộp tối có lỗ nhỏ (camera obscura), tiền thân của chiếc máy ảnh hiện đại ngày nay.
    Thế nhưng, việc sử dụng chiếc hộp tối để tạo ra bức ảnh còn phải mất một thời gian kéo dài trên 100 năm, khi con người xây dựng nên phép phối cảnh tuyến tính hình học. Việc tìm ra phép phối cảnh tuyến tính hình học trước hết là do họa sỹ Leon Battista Alberti (1404-1472) người Italia và các đồng nghiệp của ông là Philippe Brunelleshi (1377-1446 ) và Donato Bramante (1444-1514). Các nguyên tắc kinh điển của phép phối cảnh của họ dựa trên lý thuyết các tia sáng phản chiếu từ những đồ vật, được nhận biết bởi con mắt người ở đỉnh của một hình chóp nón trong một trường nhìn nhất định. Người ta coi mặt phẳng bức ảnh là một mặt cắt vuông góc với hình chop của trường nhìn đó.

    Để có hình ảnh nét hơn, người ta lắp một thấu kính vào khe hở nhỏ của buồng tối
    Mười lăm năm sau, trong công trình nghiên cứu về phép phối cảnh (perspective), Danielle Barbaro - giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Padur (Italia), đã chỉ ra rằng người ta có thể tạo ra một hình ảnh nét hơn nếu như lắp một thấu kính vào khe hở nhỏ của buồng tối. Đồng thời, tất cả các cửa ra vào, cửa sổ đều được đóng kín, để sao cho ánh sáng chỉ có thể lọt qua khe hở mà thôi. Phía sau, ta đặt một tờ giấy trắng đối diện với thấu kính ở một khoảng cách nhất định để sao cho khi nhìn thấy hình ảnh của tất cả những gì đang xẩy ra bên ngoài hộp tối trên tờ giấy đều nét. Trên tờ giấy, chúng ta sẽ thấy hình ảnh của những gì đang tồn tại cũng như độ sáng và màu sắc của từng chi tiết, các vật chuyển động như những đám mây, sóng nước, những đàn chim đang bay, bướm lượn … Nói tóm lại những gì chiếu lọt qua khe hở hiện ngược lên trên tờ giấy. Nếu chúng ta dùng cây bút lần theo đường viền hình ảnh của các đồ vật hiện lên trên tờ giấy (tất nhiên là những hình ảnh bất động), thì ta có thể vẽ phối cảnh của một bức tranh. Tiếp theo, sau khi đã có đường viền hình ảnh của vật, ta có thể tô đậm và tô mầu bức tranh vốn nó có trong tự nhiên. Điều quan trọng là trong quá trình vẽ lần theo đường viền của vật tuyệt đối không được dịch chuyển tờ giấy.
    “Hộp tối” (Camera Obscura) đầu tiên, tiền thân của chiếc máy ảnh ngày nay, thực sự là một chiếc buồng rộng đủ để cho nhà họa sỹ bước vào được bên trong, nên rất cồng kềnh, không thông dụng, rất khó mang theo, mỗi khi họa sỹ di chuyển đi đi đó. Trong hai thế kỷ XVII-XVIII, người ta đã cố gắng cải tiến “hộp tối” sao cho hình ảnh hiện lên trên tờ giấy được nét, bằng cách lắp thêm một thấu kính vào lỗ nhỏ nằm trên một mặt của một hộp vuông mỗi cạnh 60cm và đặt một tấm kính mờ vào mặt đối diện với lỗ nhỏ có lắp thấu kính. Do đó, khi nhà họa sỹ đứng ngoài hộp vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của vật được thấu kính tạo ra trên kính mờ, nhờ vậy, mà anh ta vẽ được một cách dễ dàng.

    Sau đó người ta cải tiến thêm một bước , bằng cách đặt tấm kính mờ ở mặt trên của hộp (giống như chiếc máy ảnh phản quang có gương phản chiếu), trong hộp đặt một chiếc gương nghiêng một góc 450 so với phương chiếu sáng. Khi hộp tối thu nhận hình ảnh qua thấu kính đi vào gương , sẽ phản chiếu lên kính mờ. Cải tiến này là làm cho hình ảnh không lộn ngược mà thuận chiều như vốn có tự nhiên của nó. Nhờ vậy nhà họa sỹ có thể vẽ lại vật thể bằng cách đặt một mảnh giấy mỏng và trong lên tấm kính mờ.

    Nửa đầu thế thế kỷ XVIII,buồng tối cải tiến gọn nhẹ hơn, nhỏ hơn giúp các nhà họa sỹ có thể mang theo mỗi khi đi vẽ
    Đến đây nảy sinh một vấn đề khó khăn. Các nhà họa sỹ đòi hỏi các thấu kính của “hộp tối” làm sao để các hình ảnh do chúng tạo ra phải phù hợp với các nguyên tắc phối cảnh. Chẳng hạn khi chỉ dùng một thấu kính lồi để tạo ra hình ảnh của một vật hình cầu, khi hình đó phản chiếu lên một mặt phẳng, thì độ sắc nét không đồng đều, nơi nét, nơi nhòe. Để khắc phục tình trạng này, người ta sử dụng hai thấu kính lồi có bán kính khác nhau. Nhờ thế, làm cho hình ảnh sắc nét hơn. Mặt khác do việc dùng thấu kính có tiêu cự khác nhau, nên người ta có thể thu hẹp góc độ hình ảnh để vẽ chân dung con người, cũng như có thề mở rộng góc nhìn khi vẽ phong cảnh.
    Đến nửa đầu thế thế kỷ XVIII, người ta lại cải tiến buồng tối gọn nhẹ hơn, nhỏ hơn đạt yêu cầu của các nhà họa sỹ có thể mang theo mỗi khi đi vẽ. Các cải tiến trên là một thành tựu khá quan trọng về quang học và cơ học. Nhưng việc ghi và giữ lại hình ảnh được lâu dài không phải qua công đoạn vẽ là một ước mơ của con người. Công việc đó đạt được lại nhờ vào sự phát triển của hóa học. Bởi nhiếp ảnh về cơ bản là một phương pháp vẽ kỹ thuật để giữ được hình ảnh trong máy ảnh nhờ tác động của ánh sáng lên các chất nhạy sáng.
    (Còn nữa)
    Mạnh Thường
    Theo điện tử tiêu dùng
    SONY A77 , NEX6

  2. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  3. #2
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: “Sự tích” chiếc hộp tối (P.2)


    Chính ánh sáng, chứ không phải cái gì khác giữ lại bức ảnh trong máy chụp, chứ không cần con người phải vẽ bằng tay. Chính ý tưởng lớn lao đó là chìa khóa mở đường đi dến phát minh ra chiếc máy ảnh, mở đầu cho sự ra đời của nhiếp ảnh hiện đại
    Năm 1727, nhà hóa học người Đức Johann Heinrich Schulze (1682-1744) là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này một cách khoa học. Ông đã nhiều lần thử lặp đi lặp lại thí nghiệm của nhà giả kim thuật Christoph Adolph Balduin nhằm chế tạo ra chất phát quang. Bởi năm 1674, Baduin đã phát hiện ra rằng phấn viết cacbonat canxi (CaCO3) khi tan trong axit nitric (HNO3) sẽ cho một hợp chất là nitrat canxi (CaNO3) hấp thụ hơi ẩm trong không khí. Balduin cho rằng có thể hấp thụ được “tính chất của thế giới tự nhiên” bằng cách chưng cất hỗn hợp này. Trong khi lặp lại thí nghiệm của Balduin, Schulze tình cờ quan sát thấy phần còn lại trong bình chưng cất đã được đốt nóng tự nhiên phát sáng trong bóng tối và khi bình đã ở trạng thái nguội cũng phát sáng và đầu tiên ông gọi chất đó là chất “phát sáng” (phosphorus).

    Nhà hóa học người Đức Johann Heinrich Schulze
    Loại axit nitric mà Schulze dùng để lặp lại thí nghiệm của Balduin là không nguyên chất, không tinh khiết, trong đó có chứa bạc (Ag). Khi ông hòa tan phấn viết vào axit, ông đã tạo ra một hợp chất phức của nitrat canxi (CaNO3) và cacbonat bạc (Ag2CO3). Ông rất ngạc nhiên thấy hỗn hợp này ngả từ màu đỏ thẫm sang tím than khi đưa hỗn hợp ra áng nắng, nhưng nếu đun hỗn hợp này trên ngọn lửa thì nó không bị biến đổi màu như thế nữa. Schulze đi đến kết luận rằng sự biến đổi mầu sắc của hỗn hợp rõ ràng không do nhiệt độ mà do áng sáng gây nên.

    Để khẳng định một cách chắc chắn kết luận của mình, ông cho vào trong chiếc lọ thủy tinh một hỗn hợp gồm phấn viết (cacbonat canxi), bạc (Ag) và axit nitric (HNO3). Trong báo cáo thí nghiệm của mình, ông mô tả: che phần lớn mặt bình thủy tinh bằng giấy đen, còn để một phần cho ánh sáng lọt qua. Phần cho ánh sáng lọt qua là các hàng chữ dùng dao trổ trên tờ giấy đen bọc ngoài lọ, rồi đưa ra ánh sáng, chẳng bao lâu các tia nắng “viết” các hàng chữ trổ lên chất phấn viết đọng xuống đáy bình thủy tinh. Hàng chữ do ánh sáng “viết” rất rõ ràng, chính xác và sắc nét tới mức ông đã làm cho nhiều người cho rằng những hàng chữ do ánh sáng “viết” là do một thủ pháp siêu hình nào đó tạo nên. Schulze đã đặt tên cho hợp chất nhạy sáng này là chất “mang bóng tối” (Scotophorus). Đồng thời công bố công trình nghiên cứu của mình trong các tài liệu của Viện Hàn lâmcác nhà nghiên cứu tự nhiên Nurmberg vào năm 1727 dưới nhan đề: “Chất mang bóng tối được phát hiện thay vì chất mang ánh sáng (scotophorus pro phosphorus inventus) hay còn gọi: thí nghiệm kỳ lạ về tác động của các tia nắng”.
    Ngay sau khi Schulze công bố công trình của mình, lập tức các nhà khoa học khác bắt đầu lặp lại thí nghiệm của Schulze. Về sau, thí nghiệm đó đã được phổ biến rộng rãi ở châu Âu, và đến gần cuối thế kỷ XVIII đã manh nha bóng dáng của các chất dùng để bắt giữ hình ảnh không bền trong buồng tối.

    Thực chất thí nghiệm của Schulze công bố chính là công trình nghiên cứu tính chất bắt sáng của nitrat bạc (AgNO3). Một thôi thúc đặc biệt muốn biến các hiểu biết đó thành hiện thực kỹ thuật được nảy sinh từ những nhu cầu về tranh ảnh lớn chưa từng có trong giới thượng lưu ngày một lên cao của thế kỷ XVIII. Khi đó, xuất hiện một nhu cầu lớn về về các bản vẽ, và sau khi phát minh này được công bố, kỹ thuật in bản thạch và nghề khắc gỗ được khơi dậy trở lại, nên trong thực tế việc nhân bản các bức tranh hầu như là vô hạn.

    Máy vẽ hình bóng những năm cuối thế kỷ XVIII
    Giới thượng lưu giàu có muốn có những bức ảnh chân dung, họ đã sử dụng một dụng cụ cơ học giúp họ sao chép hình ảnh của mình mà không cần tiếp thu kỹ năng nghệ thuật phiền phức (học vẽ). Với những dụng cụ này, mỗi một người đều có thể trở thành thợ vẽ (mà không cần phải học vẽ), nếu không muốn nói trở thành nhà họa sỹ. Máy vẽ “hình bóng” (silhouette), chỉ đòi hỏi duy nhất khả năng sao chép lại hình bóng một đồ vật và máy vẽ “chân dung” (physionotrace), do Gilles-Louis Chretien phát minh năm 1786, cũng không đặt ra yêu cầu cao hơn đối với những người mới bước vào nghề.

    Đồng thời, với sự ra đời của nghề khắc đồng, người ta có thể chế ra các bản in rất dễ dàng. Đường nét của mẫu vẽ (bức chân dung người), được họa lại nhờ một chiếc kính ngắm di động được nối với một bút vẽ liên kết với một hệ thống điều khiển để có thể di chuyển theo mọi dạng hình dáng khác nhau của mẫu vẽ. Cây bút vẽ này sẽ dùng mực ghi lại trên tấm đồng từng chi tiết nhỏ nhất của vẽ, nhưng sẽ được thu nhỏ nhiều lần hoặc phóng to nhiều lần so với mẫu vẽ, tùy theo yêu cầu của người đặt hàng. Sau đó căn cứ vào hình vẽ trên tấm đồng mà người thợ khắc đồng sẽ thể hiện.

    Thời bấy giờ, công cụ này được nhiều người ưa thích. Riêng phòng triển lãm Paris năm 1797 đã trưng bày trên 6.000 bức chân dung được vẽ với máy vẽ “chân dung”. Nhà họa sỹ Fevret de Saint Memin đã mang chiếc máy vẽ chân dung của mình sang Hoa Kỳ và đã “chụp” được hơn 800 bức chân dung các nhân vật, đặc biệt còn có một số chân dung của các yếu nhân xây dựng nên Hiến pháp Mỹ đầu tiên giống y chang người thật.

    Máy ảnh Camera Lucida
    Ngoài ra còn có một dụng cụ khác cũng giúp đắc lực cho những người thiếu kỹ năng nghệ thuật là chiếc máy ảnh Lucida (Camera Lucida) do nhà khoa học tự nhiên người Anh William Hyde Wollaston sáng chế ra năm 1807. Máy chụp ảnh Lucida có một vài điểm trùng hợp với hộp tối (camera Obscura) về tên gọi và chức năng, nhưng nó gọn nhẹ, dễ vận chuyển, nên được nhiều người ưa dùng. Họa sỹ Basil Hall đã dùng chiếc máy Lucida để ghi lại những ấn tượng sâu sắc của mình trong các chuyến đi châu Âu và sang Mỹ.
    Tuy vậy, nhiều nhà họa sỹ nghiệp dư vẫn chưa thỏa mãn với những cải tiến này. Ngay cả máy chụp ảnh Lucida vẫn phải đòi hỏi khả năng tối thiểu về năng khiếu hội họa. Đó là điều tất nhiên, bởi trong lịch sử nhiếp ảnh, chưa bao giờ một người chơi nghiệp dư có thú vui thử nghiệm lại sẵn sàng vừa ý với những khiếm khuyết của mình, hoặc lại lùi bước trước khó khăn. Họ sẵn lòng tìm mọi cách khắc phục chúng. Đó là đặc điểm cơ bản để phân biệt người chơi nghiệp dư với nhà chuyên nghiệp.

    Sự khao khát tìm mọi biện pháp cải tiến dụng cụ máy móc thu hình không ngừng tăng lên. Các phương tiện hỗ trợ kỹ thuật như “hộp tối” và máy chụp Lucida tuy đã đưa con người đến gần với việc mô tả thiên nhiên, con người một cách chính xác, nhưng với ước mong thỏa mãnnhững nhu cầu cháy bỏng về mô tả hiện thực một cách chính xác và thuận lợi cả cho những người chưa có mấy hiểu biết về hội họa thì rõ ràng họ chưa thể bằng lòng với “bút vẽ áng sáng” hiện tại, họ đòi hỏi phải cải tiến vượt qua khoảng cách cuối cùng. Trong nhiều bộ óc của các nhà nghiên cứu đã dấy lên cùng một ý tưởng và cuộc chạy đua để đi đến những phát triển đang diễn ra rất sôi động: “Chính ánh sáng, chứ không phải cái gì khác giữ lại bức ảnh trong máy chụp, chứ không cần con người phải vẽ bằng tay. Chính ý tưởng lớn lao đó là chìa khóa mở đường đi dến phát minh ra chiếc máy ảnh, mở đầu cho sự ra đời của nhiếp ảnh hiện đại”.
    SONY A77 , NEX6

  4. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  5. #3
    Junior Member Kamelot's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2012
    Bài viết
    1,657
    Thanks
    2,206
    Thanked 1,937 Times in 933 Posts
    Bài rất hay bác ạ, em rất mong có những bài kiến thức bổ ích thế này
    Em sẽ tự xóa bài này trong ít ngày tới để tránh làm ngắt cảm xúc người xem. Nhưng lúc này thì để em bày tỏ 1 tí
    Blog ảnh cá nhân: http://me.zing.vn/zb/u/giangddk

  6. #4
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Nghiên cứu và phát minh của William Henry Fox Talbot




    Phương pháp làm ảnh của William Henry Fox Talbot tiến bộ hơn, gọi là phương pháp calo (calotype). Hình âm thu được không phải trên tấm kim loại, mà ở trên giấy có phủ một lớp bắt sáng.



    Tin tức về phát minh của Daguerre đến với nước Anh một cách bất ngờ và hết sức đột ngột, nhất là đối với William Henry Fox Talbot (1800-1877), nhà khoa học tự nhiên, nhà toán học, thực vật học, nhà nghiên cứu ngôn ngữ và nhà cổ ngữ học, người đã sáng chế ra chiếc máy ảnh và sáng tạo ra phương pháp làm ảnh Calo.

    Nghiên cứu hoàn toàn độc lập với Daguerre, ông đã phát hiện ra một kỹ thuật làm ảnh mà lúc đầu ông nhầm tưởng là trùng với kỹ thuật làm ảnh của người Pháp là Niepce. Sau này, ông hồi tưởng lại rằng đã rơi vào một tình thế rất khó xử, mà trong báo cáo hàng năm của giới khoa học hầu như chưa có trường hợp tương tự xảy ra. Vì thế ông đã vội vàng công bố kết quả nghiên cứu của mình, đồng thời đòi hỏi công nhận phát minh của mình ra đời trước kết quả nghiên cứu của Daguerre.


    William Henry Fox Talbot sáng chế ra chiếc máy ảnh và sáng tạo ra phương pháp làm ảnh Calo
    Phát hiện của Fox Talbot về phương pháp chụp ảnh mới đã xảy ra gần như ngẫu nhiên. Vào một ngày đầu tháng 10/1833, trên bờ hồ Comer xinh đẹp, ông đang loay hoay tạo ra một vài phác thảo với sự trợ giúp đắc lực của buồng chụp Wollaston, nhưng đáng tiếc chỉ thu được kết quả hết sức khiêm tốn. Sau nhiều cố gắng không thành công, ông dẹp mọi dụng cụ sang một bên và đi đến kết luận rằng muốn sử dụng nó, thì chí ít phải biết đôi chút về hội họa, nhưng buồn thay, ông không có năng khiếu về hội họa. Sau đó ông, ông nghĩ tới việc thử làm lại với phương pháp mà ông từng thí nghiệm cách vài năm trước đây. Phương pháp này là dùng một hộp “hộp tối”(Camera Obscura) và chiếu hình các vật lên một tờ giấy can mờ đục, tờ giấy này được đặt tại vị trí tiêu điểm của dụng cụ hộp tối. Hình ảnh tuyệt diệu của vật tạo thành trong khoảnh khắc, rồi biến mất trong chốc lát. Trong quá trình làm thí nghiệm, Talbot nảy ra ý nghĩ sẽ thật là hay biết nhường nào, nếu người ta có một cách nào đó có thể làm cho hình ảnh tự nhiên của các vật được ghi lại một cách lâu bền trên trang giấy.
    Cũng vào mùa thu năm ấy (1833), Talbot trở lại Anh quốc, ông bắt tay ngay vào làm thí nghiệm. Ông nhúng một tờ giấy vào dung dịch muối ăn (NaCl). Sau khi tờ giấy đã khô, ông nhúng nó vào trong dung dịch Nitrat bạc mạnh (AgNO3). Các chất này phản ứng với nhau tạo nên trên tờ giấy một lớp Clorua bạc (AgCl2), một loại muối có năng bắt sáng mạnh, không tan trong nước. Như vậy trên tờ giấy đã phủ một lớp muối Clorua bạc nhạy sáng. Talbot đặt một chiếc lá, một chiếc lông vũ, một mẫu đăng ten, rồi đưa tất cả ra ánh sáng mặt mặt trời. Ông nhận thấy tờ giấy đã tẩm chất cảm quang dần dần đen lại ở những chỗ không được bảo vệ trước ánh sáng do đồ vật nằm bên trên cản ánh sáng không cho lọt qua. Còn ở những vị trí có đặt đồ vật vẫn giữ nguyên màu trắng ban đầu của tờ giấy hình dạng của đồ vật. Như vậy, trên tờ giấy cảm quang hình thành một hình bóng mầu trắng (theo hình dạng của vật) trên nền tối của tờ giấy bị đen lại. Ngày nay chúng ta gọi là bản âm.

    Hình ảnh bản âm tạo ra từ Clorua bạc nhạy sáng
    Ngày 28/2/1835, trong một cuốn sổ ghi chép, Talbot đã mô tả phương pháp để có thể tạo ra một bản dương từ một bản âm như sau: “Trong phương pháp chụp hình hoặc đồ họa hình, nếu như dùng giấy trong suốt tẩm chất liệu cảm quang, thì bức vẽ đầu tiên (tấm âm bản) có thể phục vụ cho việc tạo ra bức ảnh thứ hai, mà trên đó ánh sáng và bóng tối sẽ đảo ngược lại so với ban đầu (dương bản)”.
    Ông viết tiếp: “Nhưng muốn điều đó xảy ra , tức là làm bản thứ hhai từ bản thứ nhất, thì trước tiên phải xác định hình cho bản thứ nhất tức là làm cho nó mất khả năng nhạy sáng đối với tác động của ánh sáng tiếp theo”. Để đạt được điều này, Talbot đem tờ giấy đã lộ sáng đồ vật nhúng vào trong một dung dịch muối ăn mạnh, hoặc Iôđua Kalium. Nhờ vậy mà khả năng nhạy sáng của muối bạc yếu đi rất nhiều. Do đó muối bạc ít còn bị ánh sáng tác động tiếp theo. Tính chất nhạy sáng của các muối bạc thay đổi mạnh hay yếu phụ thuộc rất lớn vào phương pháp tạo ra chúng. Chẳng hạn nếu cho một dung dịch muối ăn mạnh vào một dung dịch Nitrat yếu, thì Clorua bạc (NaCl) kết tủa sẽ kém nhạy sáng hơn nhiều so với dung dịch muối ăn yếu cho vào một dung dịch Nitrat bạc mạnh, mặc dầu về cấu trúc hóa học thì chúng vẫn giống nhau.
    Song, thật ra kỹ thuật định hình của Talbot không được bền lâu. Vì vật những tác phẩm chụp trong thời gian tiến hành thí nghiệm của ông đã bị phai mờ, thậm chí có một số hình biến mất hẳn, chỉ còn lại chữ ký của Talbot, chứng tỏ tờ giấy mầu trắng trước kia đã có một thời hiện diện một bức tranh. Nhưng rõ ràng phương pháp của Talbot ít ra cũng cố định được “bức họa tạo bằng ánh sáng” trong một thời gian nào đó, để người ta có thể quan sát chúng vào ban ngày và từ những tờ giấy trắng bắt sáng để tạo ra các dương bản.

    Với thành công đó, Talbot chuyển sang áp dụng phát minh vào máy ảnh để chụp các hình ảnh. Một trong nhiều bức ảnh đó ngày nay còn được lưu giữ ở Bảo tàng Khoa học (Science Museum) của London, Anh quốc. Đó là một dương bản hình vuông, mỗi cạnh chưa đầy 2.5 cm, chụp một ngôi nhà có cánh cửa sổ song sắt ở Lacock Abbey. Talbot dán cẩn thận bức ảnh lên tờ các tông và viết vào bên cạnh: “Cửa sổ song sắt”, chụp bằng “hộp tối” vào tháng 8 năm 1835. Với những loại “hộp tối” này, Talbot đã chụp được khoảng 200 tấm. Talbot còn có hẳn một bộ sưu tập các “hộp tối”chụp hình . Vợ ông thường gọi đó là những chiếc bẫy chuột nhỏ mà ông đặt sẵn ở Lacock Abbey trong những ngày hè trời nắng rực rỡ. Sau nửa giờ lộ sáng, ông viết: “Tôi thu chúng lại và mở chúng ra trong buồng tối và thấy trong “hộp tối” chụp hình đã chụp được một bức ảnh tí hon của các vật mà tôi đã đặt “hộp tối” chụp hình trước chúng.

    Các hộp tối của William Henry Fox Talbot
    Talbot tạm thời dừng các thí nghiệm lại, mặc dầu ông coi công cuộc nghiên cứu chưa kết thúc. Ông tin tưởng rằng vào một lúc nào đó sau này, khi có điều kiện, ông có thể hoàn thiện phương pháp đồ họa nhờ ánh sáng (chụp hình) của mình rồi trình lên Hội Hoàng gia, cũng không muộn. Nhưng bỗng nhiên phương pháp làm ảnh Daguerre được công bố và lúc này ông cảm thấy mình đã bỏ phí thời gian. Công việc nghiên cứu đòi hỏi ông không một chút chậm trẽ. Talbot vội vàng gửi các mẫu thử công trình của ông cho Viện Hoàng gia (Royal Institution) ở London, nơi mà trong một phiên họp thường lệ của Viện vào tối thứ 6 ngày 25/1/1839, người ta cho các viện sỹ xem các mẫu thí nghiệm chụp ảnh của Talbot. Các mẫu thử gồm: Các nụ hoa và lá; Một mẫu đăng ten; Các hình ảnh chụp từ một bức tranh kính; Một phong cảnh thành phố Venise được chụp từ một bản khắc đồng; Một số bức ảnh chụp qua kính hiển vi dùng ánh sáng mặt trời, cụ thể là một mặt cắt tấm gỗ được phóng đại nhiều lần, nên người ta có thể nhận ra hai loại mao mạch: một loại rất nhỏ, nhưng số lượng lại nhiều hơn loại kia; Một bức ảnh chụp qua kính hiển vi khác, trên đó người ta nhìn thấy rõ một màng mỏng của cánh côn trùng. Cuối cùng là các bức chụp về kiến trúc. Đó là ngôi nhà của Talbot ở quê ông. Tất cả những tác phẩm đó được chụp vào mùa hè năm 1835.

    Cánh côn trùng được lưu lại trên giấy
    Lần sửa cuối bởi onelight, ngày 20-09-2012 lúc 12:01 PM.
    SONY A77 , NEX6

  7. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  8. #5
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Ngày 29/ 1/ 1839, bản báo cáo của Talbot về “Nghệ thuật đồ họa nhờ ánh sáng” được trình bày trước Hội Hoàng gia Anh. Bản báo cáo được trình bày một cách chung chung về các kết quả đạt được.Nhưng các chi tiết về kỹ thuật được mô tả một cách chính xác tuyệt vời, đến mức mỗi người tự mình có thể thao tác các quy trình được trình bày trong bản báo cáo Thứ hai được đọc vào ngày 20/ 2 /1839.

    Ngày 1/ 2/ 1839, Talbot đến thăm W.Herschel (1738-1842), người đã tìm ra chất định hình là Hyposulfit Natri, ngày nay gọi là Natrumthiosulfat (Na2S2O3). Herschel còn là người đề xuất khái niệm “nhiếp ảnh” (Photography) thay cho cách dùng chưa chính xác của Talbot là “Đồ họa bằng ánh sáng”, đồng thời còn đưa khái niệm “âm bản” (negative) và “dương bản” (positive) thay cho bản sao đảo nghịch và bản sao đảo nghịch lần hai. Tại đây, Herschel đã cho Talbot xem kỹ thuật định hình của mình. Được sự đồng ý của Herschel, Talbot đã mô tả kỹ thuật đó trong một bài báo đăng tải trên tờ “Tường trình” (Comptes Rendus ) của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Daguerre tức khắc tiếp nhận kỹ thuật đó. Và hầu như tất cả các phương pháp chụp ảnh về sau đều áp dụng phát kiến này của Herschel.
    Chẳng bao lâu sau đó, vật liệu và dụng cụ máy móc dùng làm ảnh theo phương pháp Talbot xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường. Tháng 4/1839, Công ty Ackerman (Ackerman &Co), một hãng buôn bán đồ dùng hội họa hàng đầu ở London và là nhà cung cấp mọi nhu cầu về mỹ thuật đã tung ra tờ quảng cáo về một “Hộp vẽ bằng ánh sáng” (photogenic Drawing Box), thật ra nó không phải là máy chụp hình, mà là một chiếc hộp trong đó đựng hóa chất để làm giấy bắt sáng và một tập hướng dẫn cách chế tạo các bản in đặt tiếp xúc.

    "Hộp vẽ bằng ánh sáng"
    Cũng trong thời gian này, tờ “Tập san Khoa học” (Magazine of Science) công bố các phiên bản của đồ họa bắt sáng, nhưng không phải trên giấy, mà trên gỗ sồi. Trên tấm gỗ này người ta phủ lớp thuốc nhạy sáng theo phương pháp Talbot và sau đó được khắc bằng tay. Đó là bức ảnh bóng râm, ngày nay gọi là ảnh quang đồ (photogramme), của một cây mùi chó (aethusa synapium), một chồi cây parnassia và một mẫu đăng ten. Ứng dụng mới này làm cho công việc của người họa sỹ vẽ trước cho nghệ nhân khắc trở nên không cần thiết nữa. Tuy vậy, mãi cho tới thập niên 60 thế kỷ XIX, kỹ thuật mới này vẫn chưa áp dụng rộng rãi. Nhưng ngay sau đó, “kỹ thuật ảnh quang đồ” đã làm thay đổi cơ bản kỹ thuật khắc gỗ.
    Kỹ thuật Talbot được phát triển theo các biến tấu khác nhau. Phương án độc nhất vô nhị do ông Mungo Ponton, người Scotland nghĩ ra: thay vì dùng muối bạc chẳng hạn Clorua bạc (AgCl2), ông dùng Bicromat Kali rẻ hơn nhiều để sản xuất giấy cảm quang. Các tinh thể mầu da cam sáng của Bicromat Kali, bình thường thì tan trong nước. Nhưng khi đưa ra ánh sáng nó ngả sang mầu xám hơi nâu và không bị hòa tan trong nước nữa. Bấy giờ Ponton bôi dung dịch Bicromat Kali bão hòa lên giấy, làm khô, dùng làm “ảnh quang đồ”.. Hình dạng các đồ vật nằm trên tờ giấy cảm quang, trong thời gian lộ sáng dần dần hiện lên trong mầu da cam trên nền nâu. Để định hình ảnh, Ponton chỉ còn một việc là rửa phần không bắt sáng nằm dưới vật, tức là phần Bicromat Kali có mầu da cam. Phần này sẽ nhanh chóng hòa tan trong nước. Trong bản chỉ dẫn của Ponton về tính hòa tan khác nhau của Bicromat Kali, tùy theo mức đọ tác động của ánh sáng nhiều hay ít. Về sau điều này hết sức quan trọng trong việc chế tạo bản cản quang cho ngành in.

    Hình ảnh của William Henry Fox Talbot được lưu lại trên giấy
    Tại buổi giới thiệu phương pháp của mình trước Hội đồng Nghệ thuật Scotland vào ngày 25 tháng 5 năm 1839, Ponton đã dự báo ứng dụng các phương pháp này vào thực tiễn đời sống xã hội. Vì vậy, ông hy vọng là người ta có thể nhận ra rằng phương pháp của ông có thể có lợi thực tiễn lớn trong việc chế tạo các bản in thạch.
    Phương pháp làm ảnh của Fox Talbot tiến bộ hơn, gọi là phương pháp calo (calotype). Hình âm thu được không phải trên tấm kim loại , mà ở trên giấy có phủ một lớp bắt sáng. Tại cuộc họp của Hiệp hội xúc tiến khoa học toàn nước Anh ở Birmingham, Fox Talbot đã giới thiệu bộ sưu tập đồ họa bắt sáng của mình. Ngày 26/ 8/ 1839, Talbot trình bày trước các hội viên Hội xúc tiến khoa học Anh một báo cáo về “phương pháp làm ảnh Daguerre”. Trong báo cáo ông khẳng định là barn thân ông đã từ lâu nghiên cứu về tính nhạy sáng của Clorua bạc, nhưng đã nhận ra khả năng nhạy sáng của chất này quá yếu đối với việc ghi hình, nên thời gian lộ sáng phải tính đến hàng giờ. Theo đánh giá của Talbot, thì đóng góp quan trọng nhất của Daguerre là nhận biết được tấm ảnh có độ nhạy yếu, có thể tăng cường bằng cách xử lý với hơi thủy ngân.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  9. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  10. #6
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Nghiên cứu và phát minh của Daguerre


    Năm 1837, Louis Jacque Mande Daguerre dùng bản vẽ trên giấy bóng mờ và dùng phương pháp nghiên cứu của mình để chụp thành công bức ảnh tĩnh vật đầu tiên.

    Năm 1837, Louis Jacque Mande Daguerre dùng bản vẽ trên giấy bóng mờ, úp lên tấm đồng đánh nhẵn bóng, trên đó phủ một lớp Iodua bạc, rồi đem lộ sáng khoảng 16 phút (thời gian lộ sáng của Niepce 8 giờ), ông dùng hơi thủy ngân phả vào, hình vẽ nổi lên. Tiếp đó ông nhúng bản âm vào dung dịch muối ăn (NaCl) để định hình. Đến lúc này Daguerre vẫn chưa biết dùng Hyposulfit để định hình (mà từ năm 1819, J. Herschel đã tìm ra).

    Ảnh tĩnh vật - Daguerre chụp năm 1937
    Với phương pháp này, Daguerre đã chụp thành công bức ảnh tĩnh vật (1837) với các đồ vật được đúc từ thạch cao, gồm: một bình đựng đan bằng mây, một bức tranh có khung, một tượng trẻ con và các bức màn gấp nếp. Bức ảnh làm nhiều người thời bấy giờ rất ngạc nhiên. Bởi bức ảnh có nhiều chi tiết được làm nổi bật qua các sắc mầu đậm nhạt giữa các phần sáng tối cũng như bởi tính hiện thực có sức thuyết phục cao trong cấu trúc bề mặt, đường nét và bố cục không gian thoáng rộng. Bức ảnh đó được bảo tồn cho đến ngày nay, nằm trong bộ sưu tập quý giá của Hội Nhiếp ảnh Pháp ở Paris. Bức ảnh có ghi tên tác phẩm và ngày tháng chụp. Một tác phẩm khác được Daguerre chụp theo phương pháp mà Daguerre gọi là “phương pháp chụp ảnh Daguerre” vào năm 1839, có tên “Nhìn về đại lộ Nhà Thờ”.
    Những bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre đều được thể hiện trên tấm đồng nhẵn bóng mạ bạc, khổ lớn (16x21cm). Theo một báo cáo sau này của Daguerre thì ông đã đánh bóng bề mặt mạ bạc của tấm đồng cho tới khi sáng bóng như gương soi. Sau đó ông làm cho bề mặt đó nhạy sáng bằng cách úp mặt mạ bạc lên một hộp có chứa các hạt I-ôt nhỏ. Hơi I-ôt từ hộp bốc lên phản ứng với bạc kim loại (trên bề mặt tấm đồng đã mạ bạc) để tạo thành Iôđua bạc nhạy sáng (như một miếng “phim” bằng đồng), Daguerre đem tấm đồng nhạy sáng đó lắp vào máy chụp. Thời gian lộ sáng nhanh hay chậm tùy theo cường độ ánh sáng mạnh hay yếu. Khi tấm đồng nhạy sáng bị tác động của ánh sáng sẽ khử Iôđua bạc thành bạc kim loại.

    Nhìn về đại lộ Nhà Thờ - Daguerre chụp năm 1839
    Tiếp đó, Daguerre đặt tấm đồng đã rọi sáng (trên đó chưa nhìn thấy hình ảnh - ảnh ẩn) lên một chậu thủy ngân (Hg) đã đun nóng. Hơi thủy ngân bốc lên cùng với bạc vừa mới bị khử trong khi lộ sáng sẽ tạo thành một hỗn hợp và hình của bức ảnh từ từ hiện dần lên. Khi hình ảnh lên đầy đủ chi tiết Daguerre đưa tấm đồng có hình nhúng vào trong dung dịch muối ăn (Clorua Natri NaCl) đậm đặc. Dung dịch này làm cho Iôđua bạc chưa bị chiếu sáng, không còn khả năng nhạy sáng, khi tiếp tục cho ánh sáng rọi vào. Cuối cùng đưa tấm đồng đã có hình rửa nước vầ phơi khô. Dung dịch muối ăn thực chất là thuốc định hình, nhưng khả năng định hình rất kém so với Hypo nên ảnh không bền lâu.
    Với cách làm đó, ta thấy trên bức ảnh các phần mầu sáng được cố đinh bằng hỗn hợp thủy ngân nên mầu hơi trắng mờ, các phần tối được biểu hiện bởi bề mặt tấm đồng hầu như không thay đổi. Nếu người ta bảo quản bức ảnh đó trong một không gian tối thì bức ảnh hiện lên thành dương bản đúng như vật chụp.
    Sau thành công đó, Daguerre đưa cho đối tác là Isidor Niepce một bản hợp đồng mới. Trong đó nói rõ ông coi việc phát minh đã thành công là của riêng mình và tuyên bố “sẵn sàng đưa phát minh vào hợp đồng đối tác với điều kiện là phương pháp làm ảnh mới này chỉ mang mỗi tên Louis Jacque Mande Daguerre, nhưng sẽ được công bố trong mối quan hệ với phương pháp thứ nhất để tên của ông Joseph Nicephore Niepce”.
    Chi tiết của bản hợp đồng mới này có nhiều điều bất hợp lý, không khách quan và không công bằng, nên Isidor đã ký vào hợp đồng này một cách miễn cưỡng, bản hợp đồng mà anh coi là một sự xúc phạm đến kỷ niệm về cha anh. Song trên thực tế, Daguerre có lý khi ông đòi hỏi phải coi phương pháp mới do ông thí nghiệm tìm ra là phát minh của mình.

    Cũng có người cho rằng Niepce đã có lần dùng Iôdua bạc làm chất nhạy sáng, nhưng chưa có chứng cứ nào cho thấy Niepce đã làm cho tính chất này trở nên hữu ích. Sinh thời Niepce từng dùng hơi I-ôt để làm đen các phần được lộ ra trên các tấm kẽm ở các bức đồ họa nhờ ánh sáng mặt trời. Và bức ảnh duy nhất của Niepce còn được lưu giữ đến ngày nây dựa trên cơ sở một phản ứng hóa học hoàn toàn theo kiểu khác không giống phương pháp của Daguerre.
    Sau khi thỏa thuận xong hợp đồng đối tác với Isidor Niepce, Daguerre đã in một bản giới thiệu, trong đó ông mô tả phát minh của mình với lời lẽ chung chung và thông báo rằng các chi tiết kỹ thuật sắp sửa được đem ra bán. Tuy nhiên theo lời khuyên của viện sỹ Francois Arago (1786-1853), Thư ký Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, Nghị viên Viện Dân biểu, nên Daguerre đã từ bỏ kế hoạch của mình. Nhưng Daguerre đề xuất ý kiến với Arago là nhà nước Pháp sẽ trực tiếp mua lại cả hai phương pháp. Và Arago tuyên bố với Daguerre rằng ông sẽ triệu tập một cuộc họp của Viện Hàn lâm để nghe tường trình phát minh này.
    Ngày 7/1/1839, tại phiên họp của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, viện sỹ F. Arago đã trịnh trọng trình bày công trình khoa học của Mande Daguerre.

    William Henry Fox Talbot (1800-1877)
    Bản báo cáo về cuộc họp của Viejn Hàn lâm Khoa học Pháp đã nhanh chóng đăng tải trên tạp chí “Comptes Rendus des Seancesde l`Academie des Sciences” (tường trình các phiên họp của Viện Hàn lâm Khoa học). Ngày 19 /1 /1839, tờ “Literary Gzette” có uy tín ở thủ đô Paris cũng đăng tải bản báo cáo này qua bản dịch Anh ngữ. Tin tức về phát minh của Daguerre đến với nước Anh một cách hết sức đột ngột, nhất là đối với William Henry Fox Talbot (1800-1877), nhà khoa học tự nhiên, nhà toán học, thực vật học, nhà nghiên cứu ngôn ngữ và là nhà cổ ngữ học, người đã sáng chế ra chiếc máy ảnh và sáng tạo ra phương pháp làm ảnh calo.

    Vì nghiên cứu hoàn toàn độc lập với Daguerre, Talbot đã phát hiện ra một kỹ thuật làm ảnh mà lúc đầu ông nhầm tưởng là trùng với kỹ thuật làm ảnh của người Pháp là Niepce. Sau này, ông hồi tưởng lại rằng đã rơi vào tình thế khó xử như thế nào, khi mà trong các báo cáo hàng năm của giới khoa học hầu như chưa hề có trường hợp tương tự xảy ra. Tuy vậy, khi được tin phát minh của Daguerre, Fox Talbot vội vàng công bố kết quả nghiên cứu của mình, đồng thời ông đòi công nhận phát minh của mình ra đời trước cả kết quả nghiên cứu của Daguerre.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  11. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  12. #7
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Việc phổ cập phương pháp chụp ảnh Daguerre (P.1)


    Bức ảnh in thạch bản của Daguerre là một ứng dụng phát minh quan trọng. Nó là phương pháp thay thế cho việc vẽ theo tự nhiên. Các bản sao của các bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre được in theo phương pháp truyền thống (in thạch bản) nhanh chóng được mọi người mến mộ.
    Phương pháp chụp ảnh Daguerre lúc đầu hết sức phức tạp và Chính phủ Pháp giao cho Daguerre nhiệm vụ tổ chức các buổi giới thiệu công khai cho mọi người biết về phương pháp chụp ảnh của ông. Lúc đầu việc chụp ảnh chưa phổ cập, do máy ảnh quá đắt, lại cồng kềnh. Nhưng sau đó ít lâu, trên thị trường xuất hiện nhiều loại máy ảnh gọn nhẹ và rẻ hơn nhiều. Các tấm kim loại phủ chất cảm quang dùng cho máy chụp hình đều do các thợ bạc chế tác theo những khuôn khổ nhất định và sau này trở thành tiêu chuẩn quốc tế:
    - Nguyên khổ : 165x216 mm bằng 6 1/2x 81/2 inch
    - Nửa khổ : 114x140 mm bằng 4 1/2x51/2 inch
    - Phần tư khổ : 83x108 mm bằng 31/4x41/4 inch
    - Phần sau khổ : 70x 83 mm bằng 21/4x31/4 inch
    - Phần chin khổ : 51x 64 mm bằng 2x21/2 inch
    Đôi khi người ta còn dùng “khổ gấp đôi” hoặc “khổ đại” . Các loại khổ ngoại cỡ này hiếm khi được tiêu chuẩn hóa và ít sử dụng. Các ảnh đầu tiên chụp theo phương pháp Daguerre chủ yếu chụp các kiến trúc, tĩnh vật, vì chụp theo phương pháp Daguerre thì thời gian lộ sáng rất lâu, không thể chụp người hoặc các vật thể di động.

    Các thiết bị trong phương pháp chụp Daguerre
    Ngay sau khi công bố phương pháp Daguerre vào ngày 19 tháng 8 năm 1839, trên tạp chí “Kỹ thuật in thạch bản” (lithograph ), xuất hiện một bản in thạch hình của bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre, đó là bức ảnh nhà thờ Đức Bà ở Paris. Bức ảnh in thạch bản này báo trước về một ứng dụng quan trọng của phát minh Daguerre. Nó là phương pháp thay thế cho việc vẽ theo tự nhiên. Các bản sao của các bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre được in theo phương pháp truyền thống (in thạch bản) nhanh chóng được mọi người mến mộ.

    Từ năm 1840 đến năm 1844, ở Paris đã xuất bản một loạt gồm 114 bức ảnh phong cảnh du lịch mang tiêu đề “Những cuộc dạo chơi của Daguerre”. Các bức ảnh chụp ở châu Âu, Trung Đông và ở Mỹ theo phương pháp Daguerre do Nhà xuất bản N.M.P.Lerebours ấn hành, được họa lại và khắc lên bản đồng. Để thỏa mãn yêu cầu của công chúng chơi ảnh, những người không mấy thú vị về sự thiếu vắng hình bóng con người trong các bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre, người ta cho thêm hình ảnh con người bằng cách vẽ bổ sung vào bức ảnh một cách hợp lý với phong cách lãng mạn đáng yêu.
    Trong số những người đầu tiên chụp ảnh theo phương pháp Daguerre phải kể đến ông Pierre Gustave Joly de Lobiniere người Canada. Ngay từ tháng 10 năm 1839, ông đã sang Hy Lạp chụp nhiều cảnh vật của Akropolis ở Athen. Bản khắc đồng được chế tác từ bức ảnh chụp sảnh của ngôi đền, nằm trong bộ sưu tập “Cuộc dạo chơi của những người chụp ảnh theo phương pháp Daguerre”, là một bức ảnh gây kinh ngạc, đầy ánh sáng, và giàu chi tiết.

    Joly de Lotbiniere tiếp tục đi du ngoạn sang Syri, Ai Cập. Tại đây ông gặp nhà nhiếp ảnh Frederic Goupil-Fesquet, người Pháp, cũng chụp theo phương pháp Daguerre cho Nhà xuất bản Lerebours theo hợp đồng thỏa thuận đôi bên. Joly giao kết với Goupil và Horace Vernet cùng nhau dong thuyền buồm ngược dòng sông Nil, để làm tập tư liệu đầu tiên về Ai Cập. Nhà xuất bản Lerebours còn giao nhiệm vụ cho nhà nhiếp ảnh H.L.Pattinson, người ở Newcastl-Upon-Jyne chụp cho được cảnh thác nước Niagara.

    Đây là bức ảnh phông cảnh thiên nhiên đầu tiên được mọi người mến chuộng. Một nhà nhiếp ảnh người Nga (không rõ tên ) đã chụp được bức ảnh điện Kremli, Matxcơva tuyết phủ đầy tuyệt đẹp. Đáng tiếc đến nay người ta không lưu giữ được nhiều bức ảnh chụp theo phương pháp Daguerre trước đây và tên tuổi của những tác giả sáng tạo ra chúng. Chắc chắn những bức ảnh này đã bị các thợ khắc đồng, những người dựa vào những bức ảnh này đê họa lại, phá hủy.

    Hình ảnh chụp thờ Đức Bà ở Paris năm 1839
    Một số người chơi nghiệp dư cũng dùng “máy ảnh Daguerre” chụp ảnh, như Nam tước Jean Baptiste Louis Gros, một nhà ngoại giao Pháp làm việc ở Bogota, năm 1842, đã chụp nhiều phong cảnh ở thủ đô Columbia, sau này được bổ nhiệm làm đại sứ ở Hy Lạp, ông cũng chụp nhiều ảnh phong cảnh theo phương pháp Daguerre.

    Nhà khảo cổ học Joseph Philibert Girault de Prangey, từ năm 1842 đến năm 1844, trong vòng hai năm ông đã chụp ở Trung Đông hơn 1.000 bức ảnh về các kiến trúc Ả Rập. Trong chuyến đi du lịch tìm hiểu các di tích cổ thời tiền Columbia ở Trung Mỹ, năm 1841, John Lloyd Stephens đã dùng máy ảnh Daguerre và những phụ tùng kềm theo , với hy vọng có thể bổ sung thêm kho tư liệu ảnh mà trước đảy Frederic Catherwood đã chụp với máy Lucida. Đáng tiếc là Stephens đã không đạt được ý muốn.
    Một nghịch lý là máy ảnh Daguerre chỉ chụp được các danh lam thắng cảnh, kiến trúc và những tĩnh vật,nhưng không chụp được con người và vật động, vì thời gian lộ sáng quá lâu. Chụp ảnh con người nói riêng chụp ảnh đối tượng động nói chung đòi hỏi thời gian lộ sáng nhanh, tức là phải dùng chất bắt sáng mạnh. Nhưng Daguerre chưa thực hiện được. Do đó công chúng hết sức thất vọng về phát minh này và tỏ ra trách móc nhà phát minh không giữ lời hứa khi đầu tiên công bố phương pháp làm ảnh của mình là có thể chụp được chân dung.
    Vào tháng 10 năm 1840, Jean Baptiste Francois Soleil, viết trong cuốn sách hướng dẫn chụp ảnh của mình : “Đến nay chưa thực hiện được các hy vọng chụp ảnh chân dung … Tôi biết rằng đến nay chưa làm được bức chân dung nào mà người trong ảnh mở mắt và ở tư thế cũng như vẻ mặt thoải mái tự nhiên cả”.
    Nhà họa sỹ, nhà phát minh người Mỹ Samuel F.B. Morse (1791-1872), năm 1839, lần đầu tiên ông thử chụp chân dung tại New York. Trong tập hồi ký , ông nhớ lại “vợ và con gái ông ngồi ngoài trời từ 10 đến 12 phút với đôi mắt nhắm dưới trời nắng chang chang”. Trong lúc đó Alexander S. Wolcott và John Johnson quả quyết rằng tại Neww York vào khoảng tháng 10 năm 1839, họ đã chụp được các bức chân dung nghiêng (profil), với máy ảnh do họ tự chế tạo với một ống kính lắp gương lõm và họ đã đăng ký bản quyền.

    Thực tế, những bức ảnh do họ chụp là những bức ảnh khổ rất nhỏ. Diện tích bức ảnh không quá 1cm2. Nhưng vài tháng sau họ đạt được cỡ 5 x 6,25 cm. Tiếp đó họ mở một hiệu ảnh đầu tiên, được báo “Mặt trời”( The Sun ) xuất bản ở New York số ra ngày 4 tháng 3 năm 1840 giới thiệu, gọi là “Hiệu ảnh chụp theo phương pháp Daguerre đầu tiên cho ảnh chân dung”.

    Ảnh chân dung chụp theo phương pháp Daguerre
    Năm 1841, tại London, Richard Beard mua một máy ảnh Wolcott, sản xuất ở Mỹ và mở một hiệu ảnh đầu tiên ở châu Âu và được nhiều người đến chụp. Để tăng đọ sáng, trong thời kỳ đầu chụp ảnh chân dung , người ta dùng những tấm gương lớn để hắt ánh nắng vào phòng chụp.
    SONY A77 , NEX6

  13. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  14. #8
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Đối với người mẫu chân dung, biện pháp này là một cực hình đối với họ, vì ánh sáng cực kỳ chói chang, mặc dầu trước khi chiếu lên mặt , nguồn sáng phản chiếu đã được lọc qua một dàn chai chứa chất vitriol mầu tím. Do điều kiện khắc nghiệt đó, nên không thu hút được nhiều người chụp chân dung. Điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải cải tiến cơ barn phương pháp chụp ảnh, trong đó chủ yếu là cải tiến chất bắt sáng. Nhưng sau vinh quang tột độ và hưởng thụ tối đa ( 600 France/ năm cho đến cuối đời ), Daguerre hầu như không quan tâm đóng góp vào việc hoàn thiện phát minh của mình. Ông chỉ say sưa vào việc vẽ ccho đến khi qua đời (1851), thọ 73 tuổi.
    Cuối năm 1840, kỹ thuật nhiếp ảnh đạt được 3 tiến bộ lớn:
    - Một là: Năm 1840, Peter Friedrick Voiglander, người Vien, Áo đã đưa ra thị trường một loạt ống kính được cải tiến, nó có cường độ ánh sáng gấp 22 lần so với ống kính Daguerre đã dùng. Độ sáng đó tương đương với độ mở 3,6. Nhà thiết kế ống kính này là Joseph Max Petzwald dựa trên ý kiến của giáo sư toán lý Trường Đại học Tổng hợp Vien Andreas von Ettingshausen, người đã có mặt ở Paris lúc công bố phương pháp Daguerre và đã để công tìm hiểu về vấn đề này qua việc tiếp xúc trực tiếp với ông Daguerre để đưa vào áp dụng ở Áo. Loại ống kính này lập tức được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và Mỹ.

    Thấu kính của Peter Friedrick Voiglander
    - Hai là: Độ nhạy của các tấm bắt sáng cũng được nâng lên bằng cách người ta phủ lên mặt tấm đế đã phủ chất I ôt, một lớp halogen nữa, mà người đầu tiên thí nghiệm là John Frederick Goddard, giáo viên bộ môn quang học và triết tự nhiên tại Adelaide Gallery London. Goddard thực hiện : Sau khi xông hơi I ôt cho tấm đế, ông phủ tiếp chất Brom hoặc Brom kết hợp với Clo, người ta gọi là “chất xúc tác nhanh” (quickstuff). Nhờ vậy khả năng bắt sáng nhạy hơn.
    Cùng với việc sử dụng ống kính Petzwald và tấm đế cari tiến, bấy giờ người ta có thể dễ dàng chụp được những tấm chân dung, mà thời gian lộ sáng không đến 1 phút. Năm 1841, George W. Proch, nhà chụp ảnh theo phương pháp Daguerre, người Mỹ nhờ “chất xúc tác nhanh”, ông đã có thể giảm thời gian lộ sáng xuống 25 giây.
    - Ba là: Nhờ nhúng vào dung dịch muối vàng mà nâng cao được vẻ đẹp của mầu sắc ảnh. Phát hiện này là do công lao của một người Pháp tên là Hippolite Louis Fizeau. Sauk hi tấm kim loại làm đế được nhúng vào dung dịch xút, người ta nung tấm đế đặt trên một lò lửa , rồi rót một dung dịch Clorua vàng lên. Bức ảnh trở nên sáng mầu hơn và sau một hai phút bức ảnh sẽ rất sáng.
    - Các cải tiến kỹ thuật này vừa được đưa ra thì hầu như khắp châu Âu, và Mỹ, các cửa hiệu ảnh chân dung mọc lên như nấm, mà chủ nhân cáchiệu ảnh chân dung đó xuất thân từ đủ các loại nghề thủ công và nghề tự do, gần như ai cũng có thểtiếp thu kỹ thuật này chỉ trong vòng vài tuần lễ là có thể nhảy vào hành nghề . Theo thống kê ghi nhận được ở bang Masachusetts, Mỹ trong năm kinh doanh kết thúc vào ngày 1 tháng 6 năm 1855 đã sản xuất được một khối lượng ảnh là 403.626 bức theo phương pháp Daguerre. Riêng một hiệu ảnh nổi tiếng ở Neww York, hàng ngày sản xuất được từ 300 đến 1.000 ảnh chân dung.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  15. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (20-09-2012)

  16. #9
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Việc phổ cập phương pháp chụp ảnh Daguerre (P.2)


    Ảnh chụp theo phương pháp Daguerre vào thời bấy giờ rất phổ biến, nhưng nước ảnh không bền, rất dễ hỏng, mốc. Muốn giữ lâu phải bảo quản trong hộp kín.


    Chụp ảnh trở nên phổ thông, mọi tầng lớp xã hội đều có thể đứng trước ống kính máy ảnh, không phân biệt giàu nghèo, vì lúc này chi phí chụp ảnh tương đối thấp. Ai cũng có thể để lưu lại hình dáng, đường nét của mình trên tấm mạ bạc, mà ông bác sỹ kiêm nhà văn Mỹ, Oliver Wendell Holmes từng gọi là “tấm gương biết ghi nhớ.
    Tuy thời gian lộ sáng đã cải thiện nhiều, nhưng vẫn còn lâu. Vì vậy, muốn chụp chân dung theo phương pháp Daguerre, người được chụp ảnh phải sẵn sàng cộng tác với nhà chụp ảnh bằng cách tự mình không chỉ ngồi im bất động, không nháy mắt trong 30 giây, mà trong thời gian đó phải ngồi ở tư thế tự nhiên, thoải mái. Đó là điều rất khó không phải bất cứ ai cũng làm được.

    Như chúng ta đều biết, giữa thế kỷ XIX, do khoa học kỹ thuật phát triển chưa cao, tỷ lệ tử vong con người rất lớn, đặc biệt là trẻ em, vì vậy mà nhu cầu chụp ảnh cho gia đình, chụp ảnh chân dung nhóm đòi hỏi nhiều. Và tất cả các thợ ảnh chụp theo phương pháp Daguerre đều sẵn lòng chụp các chân dung để lại cho đời sau.

    Tranh vẽ minh họa dịch vụ chụp ảnh chân dung theo phương pháp Daguerre
    Nhiều bức ảnh trong số các bức chân dung đẹp nhất của nước Pháp ra đời tời bấy giờ là của Jean Baptiste Sabatier-Blot, một họa sỹ chuyên vẽ tranh cỡ nhỏ, trở thành người học trò và là bạn của Daguerre. Bức chân dung của nhà phát minh Daguerre do Sabatier chụp là một trong những tác phẩm đẹp nhất xưa nay và các bức ảnh chụp gia đình ông, theo phương pháp Daguerre cũng là một bức ảnh hài hòa, gợi cảm. Với dáng vẻ và các chi tiết trong ảnh chứng tỏ nhà họa sỹ có nhiều kinh nghiệm trong tạo hình, bố cục, đường nét, rất chặt chẽ. Các bức ảnh chụp người mẫu khỏa thân theo phương pháp Daguerre của những nhà nhiếp ảnh khác, lại toát lên vẻ đẹp riêng, đầy quyến rũ được mọi người hưởng ứng.
    Ở Đức, các nhà chụp ảnh theo Phương pháp Daguerre cũng sôi động không kém, đặc biệt ở thành phố cảng Hamburg có nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng là Ferdinand Stelzer, có một hiệu ảnh năm 1842 và Hermann Biow người chuyên chụp ảnh theo phương pháp Daguerre khổ lớn và chuyên chụp chân dung cho những người nổi tiếng cùng thời như Alexander Humboldt… Ở Italia cũng có một loạt các nhà chụp ảnh theo phương pháp Daguerre. Tháng 11 năm 1839, nhà quang học Alessandro Duroni đã chụp một số phong cảnh thành phố Mailand với loại máy ảnh nhập từ Pháp. Năm 1840, Lorenzo SuscipiJohn Alexander Ellis chụp phong cảnh Roma hùng vĩ. Họa sỹ Stefano Stampa đã chụp và sáng tạo nên một bức chân dung khác thường, bức ảnh về người vợ của một nhà viết tiểu thuyết đang ngồi.

    Lorenzo Suscipi và John Alexander Ellis chụp Roma năm 1840
    Các nhà chụp ảnh chân dung hàng đầu của Anh quốc là Richard BeardAntoine Francois Claudet, người đã học phương pháp Daguerre và đã có giấy phép sử dụng bản quyền. Ngoài ra phải kể đến Jabez Edwin Mayall, nhà nhiếp ảnh từ Philadelphia đến London.
    Trong số các nước tiếp nhận phương pháp Daguerre , thì Mỹ là nước tiếp nhận kỹ thuật đó một cách hào hứng nhất, rầm rộ nhất và thực hành phương pháp này thành công nhất, đạt được nhiều thành tựu sớm. Mùa thu năm 1839, ông Francois Gouraud, một người Pháp đến cư ngụ ở Mỹ mang theo một số ảnh chụp theo phương pháp Daguerre do chính Daguerre và ông chế tác, có nhiều ưu điểm hơn so với các công trình của Morse, Draper và những người Mỹ đi tiên phong trong nghề ảnh, Gouraud đã trưng bày những bức ảnh này ở New York, Boston và ở Providence. Tại đây ông đã tổ chức những buổi trình diễn kỹ thuật với sự tham gia đông đảo khán giả. Ông cũng mở những khóa dạy và bán máy chụp ảnh Daguerre mà ông nhập từ Pháp.
    Chẳng bao lâu, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đã đem lại nhiều cải tiến rất có giá trị trong kỹ thuật ảnh, như việc đánh bóng tấm kim loại làm đế cảm quang bằng máy, giúp việc làm ảnh nhanh chóng, chất lượng cao, giá thành hạ.

    Chân dung Daguerre do ean Baptiste Sabatier-Blot chụp
    Năm 1848, Charles R. Meady đến thăm Daguerre và chụp 7 bức chân dung của nhà phát minh, mang dự triển lãm ảnh quốc tế năm 1851, tổ chức ở cung Pha Lê London, người Mỹ này đã đoạt 3 trong số 5 huy chương dành cho các ảnh chụp theo phương pháp Daguerre. Trong số ảnh triển lãm đó có 31 bức in vào cuốn “Lịch sử, diện mạo cung Pha Lê và cuộc triển lãm công nghệ thế giới” (History and Description of the Crystal Palace and the Exhibition of the World`s Industry ) của Tallis cùng với 42 hình ghi lại các ảnhchụp theo phương pháp Daguerre của Beard và 40 bức khác không ghi tên tác giả.
    Đến năm 1853, chỉ riêng Tp. New York đã có tới 86 hiệu ảnh. Trong số những cửa hiệu lớn nhất phải kể đến những hiệu ảnh của Mathew B. Brady, Martin, M. Lawrence Jenemiah Gurney. Năm 1844, Brady, khai trương tiếp một hiệu ảnh ở Broadway và bắt tay vào việc sưu tập một bộ ảnh chân dung của những nhân vật nổi tiếng của nước Mỹ. Năm 1850, ông cho xuất bản 12 bức chân dung dưới dạng thạch bản do ông Franccois Agvinon thực hiện. Sau nhiều năm hoạt động về chụp ảnh, Brady đã sở hữu trên 3 triệu bức ảnh (nhưng không phải tất cả do ông sáng tác ).
    Tại Boston, Albert Sands Southworth Josiah Johnson Hawes, cả hai là học trò của Gouraud, đã sáng tạo ra nhiều bức chân dung mang sắc thái khác xa những bức chân dung cứng đờ theo thói quen sắp đặt, dàn dựng của đồng nghiệp thời bấy giờ. Cụ thể: Một hôm Lemuel Shaw, chánh án tòa án tối cao bang Massachusetts đến hiệu ảnhcủa họ, ngẫu nhiên ông đi vào đúng lúc tia nắng rọi nghiêng vào mặt ông, làm nổi lên gương mặt ông những nét xương xẩu của một vị chánh án khắc khổ, nghiêm nghị, không một phút chần chừ Southworth và Hawes đã nhanh chóng chớp thời cơ bấm máy hình ảnh của ông chánh án ở phút giây chính là ông.

    Bức ảnh chân dung mang sắc thái mới trong thời kỳ này được Albert Sands Southworth và Josiah Johnson HawesLemuel Shaw chụp
    Trong các hiệu ảnh, người thợ chụp ảnh không bao giờ được rời máy. Một tấm đế được “thợ đánh bóng” và “thợ mạ bạc” đã chuẩn bị sẵn và lắp vào máy chụp. Sau khi tấm đế đã được chụp (lộ sáng), sẽ chuyển tấm đó cho “thợ thủy ngân” tráng. Tráng xong chuyển cho “thợ mạ vàng”, để nhuộm mầu nhẹ. Và sau 25 phút, khách hàng có thể nhận bức ảnh của mình.
    Chụp theo phương pháp Daguerre không chỉ chụp chân dung, phong cảnh, núi non, sông nước, kiến trúc mà chụp cả những sự kiện xảy ra hàng ngày trong đời sống xã hội được ghi lại trên tấm kim loại mạ bạc. Charles Fontayne William Southgate Porter đã chụp 3 dặm mặt sông Cincinati trên 8 tấm đế cảm quang cỡ lớn, đây trở thành bức ảnh Panorama đầu tiên trong lịch sử. Các bức ảnh riêng rẽ được đặt cạnh nhau để thành bức ảnh toàn cảnh dòng sông dài 1.5 m, đúng chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất. Trong số ảnh báo chí được chụp sớm nhất, hiện còn giữ được là một loạt ảnh chụp theo phương pháp Daguerre như bức ảnh chụp cối xay bốc cháy ở Oswego, bang New York do George N. Barnard chụp năm 1853, mang đến cho người xem ấn tượng khó quên.

    Charles Fontayne và William Southgate Porter đã chụp bức ảnh Panorama đầu tiên với 3 dặm mặt sông Cincinati
    Ảnh chụp theo phương pháp Daguerre vào thời bấy giờ rất phổ biến, nhưng nước ảnh không bền, rất dễ hỏng, mốc. Muốn giữ lâu phải bảo quản trong hộp kín.
    Năm 1856, tại cuộc triển lãm hàng năm của Hiệp hội Nhiếp ảnh London (Photography Society of London) đã trưng bày 600 bức ảnh, nhưng chỉ có 3 trong số ảnh đó được chụp theo phương pháp Daguerre. Tại Mỹ phương pháp Daguerre còn tồn tại lâu hơn một chút. Nhưng đến năm 1864 thì phương pháp Daguerre và những nhà nhiếp ảnh chụp theo phương pháp đó không cò xuất hiện trong danh mục các ngành nghề ở San Francisco nữa.
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  17. The Following 2 Users Say Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012),Kamelot (29-09-2012)

  18. #10
    Moderator
    Ngày tham gia
    Sep 2012
    Đang ở
    Cần Thơ
    Bài viết
    331
    Thanks
    37
    Thanked 446 Times in 205 Posts
    Lịch sử nhiếp ảnh: Phổ cập phương pháp của Fox Talbot (P.1)


    Năm 1840, tại London, Anh quốc, William Henry Fox Talbot đã loan báo một bước cải tiến phương pháp “đồ họa bắt sáng” của mình. Ông gọi phương pháp mới là phương pháp “calo” (calotype).

    Trước đây khi làm thí nghiệm, đưa tờ giấy cảm quang đã lộ sáng tiếp tục đưa ra ánh sáng cho tới khi hình ảnh vật chụp hiện ra trên đó. Giờ đây ông có một phát hiện đáng ngạc nhiên: với thời gian lộ sáng ngắn hơn nhiều, tính chất các muối bạc đã biến đổi tới mức có thể xử lý hóa học thêm để khử chúng thành bạc kim loại. Nguyên tắc làm hiện hình “ảnh ẩn” là cơ sở cho đại đa số các phương pháp làm ảnh sáu này. Một tia sáng yếu có thể được tăng cường lên khá nhiều qua công đoạn hiện hình.

    Hình ảnh từ phương pháp làm ảnh calo của William Henry Fox Talbot
    Để tạo một bản âm theo phương pháp calo, đầu tiên Talbot nhúng tờ giấy cảm quang làm đế vào dung dịch Nitrat bạc (AgNO3), sau đó ông nhúng tiếp vào dung dịch Iôđua Kali. Ông nhận ra rằng chất Iôđua bạc vốn không nhạy sáng mấy, nhưng nó trở nên nhạy sáng mạnh hơn, nếu ta bôi một hỗn hợp axit Galic và Nitrat bạc lên giấy đế, ông gọi hỗn hợp này là “Galonitratbạc”. Sau khi cho lộ sáng, giấy được nhúng vào trong dung dịch Galonitrat bạc. Dung dịch này có tác dụng như là chất hiện hình vật lý làm cho hình ảnh hiện lên. Để định hình hình ảnh này, đầu tiên Talbot dùng Bromur Kali và sau đó dùng Thiosulfatnatri đun nóng .Các phiên bản của âm bản này được Talbot chế trên giấy Clorua bạc.
    Ngày 2 tháng 2 năm 1841, phát minh của Fox Talbot được Hội Hoàng gia cấp bằng sáng chế. Nhưng tấm bằng đó chẳng mang lại cho ông đồng nào và sự công nhận công trình của ông cũng rất hạn chế. Trong lúc đó phát minh của Daguerre được nước Pháp công bố được hưởng lợi tức chung thân 600 France/năm,và được đăng ký bằng sáng chế ở nước Anh và được nhận một năm lợi tức, thu tiền từ việc bán các giấy phép ở Anh quốc. Talbot thấy những người kinh doanh nhiếp ảnh thu đượclợi nhuận lớn, nên ông thấy mình có quyền đòi lệ phí bản quyền ở những người đang sử dụng kỹ thuật cải tiến của ông.

    Bản âm và bản dương
    Trong các chuyến đi khắp nước Anh và châu Âu, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông gửi các âm bản về Lacock Abbey cho vợ ông là bà Constance và một người giúp việc tên là Nicolas Henneman, người được ông Talbbot huấn luyện trở thành người trợ lý đắc lực trong công việc nhiếp ảnh, chế ra các phiên bản từ các bản âm.

    Mùa thu năm 1843, Fox Talbot mở một hiệu ảnh ở Reading. Việc thành lập phương pháp làm ảnh Talbot (Talbottype Establishment) được giao cho Henneman chỉ đạo. Mỗi bản âm được kẹp vào khung cùng với giấy in ảnh đã tẩm Clorua bạc, đồng đưa toàn bộ ra phơi nắng trong một thời gian nhất định từ vài phút cho tới một giờ hoặc lâu hơn, cho tới khi hình ảnh hiện lên. Phiên bản được ép ra từ âm bản cho vào thuốc định hình, đem rửa nước thật sạch, rồi phơi khô.

    Lượng sản xuất ảnh ngày một tăng, có lúc lên đến hàng ngàn bức mỗi ngày. Talbot đã dùng một số ảnh trong đó để minh họa cho cuốn “Cây bút chì của thiên nhiên” (The Pencil of Nature). Cuốn sách này được Nhà xuất bản Longman Brown, Green & Longman ấn hành và được tái bản 5 lần trong quảng thời gian từ tháng 6 năm 1844 đến tháng 4 năm 1846. Cuốn sách gồm 24 ảnh làm theo phương pháp calo, kèm theo bản giới thiệu lịch sử ra đời phương pháp calo.

    Đa số các bức ảnh trong cuốn sách đều chụp về kiến trúc, tĩnh vật hoặc chụp lại các tác phẩm nghệ thuật. Trong đó đáng chú ý là các tác phẩm như: Một chiếc thang cũ kỹ dựa vào một nhà kho xiêu vẹo; một đụn cỏ khô; hay cánh cử mở cho ta thấy một phòng tối bên trong, phía trước dựng một chiếc chổi cùn, tựa vào thành cửa. Đó là bức ảnh mà mẹ của Talbot gọi là “độc thoại cái chổi”. Đi kèm với mỗi bức ảnh là một hoặc hai trang viết giải thích bức ảnh đó. Thỉnh thoảng ông cũng đưa ra những lời tiên đoán mà sau hàng thập kỷ trở thành hiện thực.

    Fox Talbot và phương pháp làm ảnh Talbot (Talbottype Establishment)
    David Octavius Hill và Robert Adamson là những người gặt hái thành công đàu tiên về mặt nghệ thuật cũng như về phương pháp calo. Hill là một họa sỹ tài ba sống ở Edinburgh. Năm 1843, ông thực hiện một kế hoach đồ sộ: vẽ một bức tranh tập thể của 457 người bao gồm cả đàn ông và đàn bà, tham gia vào buổi lễ khánh thành nhà thờ Tự do của Scotland (Free Church of Scotland) ở Edinburgh.

    Theo lời khuyên của bạn ông ngài David Brewster, người đã dày công nghiên cứu phương pháp calo, ông đã dùng công cụ nhiếp ảnh để khắc họa các nét mặt của nhiều người và nhận Robert Adamson là cộng tác viên. Hai người cộng tác với nhau cho đến năm 1848, thì Adamson qua đời ở tuổi 27. Để làm được việc đó hàng ngày, nhiều người mẫu chân dung tìm đến hiệu ảnh đặt trên đồi Calton, hoặc đưa họ đi chụp ở các di tích thuộc dòng nghệ thuật Baroqque tại nghĩa địa Greyfriars. Người ta ước tính Hill và Adamson đã chụp hơn 1.500 âm bản chỉ trong một thời gian ngắn.
    Xuất phát từ ý thức tôn trọng và làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ của công chúng chơi ảnh thời bấy giờ, nên khi chụp người mẫu, hai ông rất chú ý tập trung vào nét chính của người mẫu, chiếu sáng tốt để làm nổi bật dường nét gây gợi cảm nhất.

    Ảnh do David Octavius Hill và Robert Adamson chụp
    Vai trò Adamson trong việc cộng tác với Hill vượt xa vai trò của một thợ bấm máy, ông là một nghệ sỹ nhiếp ảnh có tâm hồn nghệ thuật. Vì thế sau khi Adamson qua đời, những bức ảnh về sau cộng tác với người khác kém xa các ảnh chụp thời cộng tác với Adamson. Điều đó chứng tỏ rằng nghệ thuật nhiếp ảnh không phải ai cũng đạt được thành công, mặc dầu họ rất hiểu kỹ thuật. Công việc của Hill mãi tới năm 1866, trước khi Hill qua đời 4 năm, mới hoàn thành.
    Kỹ thuật nhiếp ảnh calo không chỉ áp dụng cho thể loại chân dung mà còn dùng cho ảnh kiến trúc, phong cảnh, tĩnh vật và sinh hoạt… Trên các lĩnh vực này, các nhà nhiếp ảnh nghiệp dư Anh đã đạt được những thành tựu đáng kể. Thomas Keith, một bác sỹ giải phẩu thuât nổi tiếng, đã chụp một loạt ảnh theo phương pháp calo rất xuất sắc về phong cảnh Edinburgh. C.S.S.Dickins đã sáng tạo ra nhiều bức ảnh tĩnh vật trang trí nghệ thuật. John Shaw Smith, người xứ Dublin, đi du lịch vùng Địa Trung Hải từ năm 1850 đến năm 185 2đã mang về hàng trăm lên âm bản.
    Ở Pháp, phương pháp calo phổ biến khá rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực lập tư liệu về các di tích. Phương pháp calo nguyên thủy được một người Pháp tên là Louis Desire Blanquart- Evrard, ở Lille, nghiên cứu đưa ra hai cải tiến cơ bản:
    - Cải tiến thứ nhất: là phủ một lớp sáp lên giấy làm âm bản, trước khi phủ lớp dung dịch bắt sáng, nhờ vậy ảnh làm ra mịn, mặt giấy phẳng vì có phủ lớp sáp.
    - Blanquart-Evrard đã phát triển một lọai giấy sao chụp có độ nhạy sáng cao có thể giảm thời gian lộ sáng khi làm ảnh xuống 6 giây, dưới ánh nắng, và 40 giây trong bóng râm. Bằng cải tiến đó trong một ngày người ta có thể sản xuất được 4.000 bức ảnh. Về mầu sắc, ảnh của Blanquart-Evrard có mầu xám, khác với ảnh Talbot có mầu xanh đen đậm.
    Mùa hè năm 1851, trên tờ báo “In ảnh”(do Blanquart-Evrard sáng lập), số ra đầu tiên cho đăng một tập ảnh về kiến trúc và phong cảnh, trông rất hấp dẫn. Trong số các tác phẩm của Blanquart-Evrard được xuất bản có tác phẩm thuộc bậc thầy. Đó là những tác phẩm chụp ở Ai Cập, Nubie, Palestin, Syrie…

    Một trong những hình ảnh sông Nil trong cuốn “Sông Nil: các di tích, phong cảnh và các khám phá nhiếp ảnh” của Blanquart-Evrard
    Năm 1854, Blanquart-Evrard cho công bố một tuyển tập tác phẩm của ông trong tập Album “Sông Nil: các di tích, phong cảnh và các khám phá nhiếp ảnh” (Le Nil: Monument, Paysage, Exploration photographique).
    Hãng của ông cũng xuất bản một tập Album gồm phong cảnh các tòa nhầ cổ kính ở Jerusalem do Auguste Salzman chụp để lý giải cho học thuyết của nhà khảo cổ học người Pháp F. de Saulcy về việc xác định thời gian xây dựng các công trình kiến trúc căn cứ vào kiểu kiến trúc của chúng. Ngoài ra, Blanquart-Evrard còn công bố các bức ảnh của các tác giả Henri Secq và Charles Marville, chụp theo phương pháp calo.

    ( Còn tiếp)
    Mạnh Thường
    SONY A77 , NEX6

  19. The Following User Says Thank You to onelight For This Useful Post:

    hunghanoi (13-11-2012)

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •